Author Archives: Trang Tran

DANH SÁCH CÁN BỘ CÔNG AN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU HĐND HUYỆN ĐẠI TỪ KHÓA XX, NHIỆM KỲ 2021 – 2026

18 Tháng Năm, 2021 Tin mới

TIỂU SỬ TÓM TẮT

CỦA NHỮNG NGƯỜI ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU HĐND HUYỆN ĐẠI TỪ

KHÓA XX, NHIỆM KỲ 2021 – 2026

  1. Họ và tên thường dùng: TRẦN MINH CƯỜNG
  2. Họ và tên khai sinh: TRẦN MINH CƯỜNG

Các bí danh/tên gọi khác (nếu có): Không

  1. Ngày, tháng, năm sinh: 09/10/1975                                  Giới tính: Nam
  2. Quốc tịch: Chỉ có 01 quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và không trong thời gian thực hiện thủ tục xin gia nhập quốc tịch quốc gia khác
  3. Nơi đăng ký khai sinh: xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Quê quán: xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  5. Nơi đăng ký thường trú: Tổ 6, Phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  6. Nơi ở hiện nay: Như trên
  1. Số CMND: 090660112

Ngày cấp: 19/3/2011                  Cơ quan cấp: Công an tỉnh Thái Nguyên

  1. Dân tộc: Kinh
  2. Tôn giáo: Không
  3. Trình độ:

– Giáo dục phổ thông: 12/12 phổ thông

– Chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân luật, chuyên ngành điều tra tội phạm

– Học vị: không;     Học hàm: không

– Lý luận chính trị: Cử nhân

– Ngoại ngữ: Anh B1

  1. Nghề nghiệp hiện nay: Công an
  2. Chức vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị đang công tác: Trưởng Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Nơi công tác: Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Ngày vào Đảng: 27/9/1997

– Ngày chính thức: 27/9/1998;          Số thẻ đảng viên: 01 030241

– Chức vụ trong Đảng: Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Từ; Bí thư Đảng ủy Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

– Ngày ra khỏi Đảng (nếu có): Không

Lý do ra khỏi Đảng: Không

  1. Tham gia làm thành viên của các tổ chức đoàn thể khác: không
  2. Tình trạng sức khoẻ: Tốt
  3. Các hình thức khen thưởng nhà nước đã được trao tặng: Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất của Chủ tịch nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Năm năm 2011; Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Công an năm: 2012, 2014, 2016; Bằng khen của Tổng Cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an năm 2017; Bằng khen của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên năm 2016; Bằng khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên năm: 2014, 2021.
  4. Các hình thức kỷ luật, xử lý vi phạm đã bị áp dụng (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không bị kỷ luật, không có án tích.
  5. Là đại biểu Quốc hội khoá (nếu có): không
  6. Là đại biểu Hội đồng nhân dân(nếu có): không
  7. Tóm tắt quá trình công tác:

Thời gian

Công việc, chức danh, chức vụ, nơi công tác

 (Chính quyền, Đảng, đoàn thể)

– Từ tháng 10 năm 1993

đến tháng 10 năm 1995

– Học viên trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân 1, Bộ Công an – Thành phố Hà Nội
– Từ tháng 10 năm 1995

đến tháng 12 năm 2013

– Cán bộ, Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

– Phó trưởng Công an phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

– Trưởng Công an phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

– Từ tháng 01 năm 2014

đến tháng 8 năm 2014

– Đội trưởng đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
– Từ tháng 8 năm 2014

đến tháng 9 năm 2015

– Đội trưởng đội hướng dẫn, điều tra án xâm phạm nhân thân, Phòng Cảnh sát Hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên
– Từ tháng 9 năm 2015

đến tháng 9 năm 2019

– Phó Trưởng phòng Cảnh sát Hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên

– Phó Thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Thái Nguyên (tháng 3/2016)

– Từ tháng 9 năm 2019

đến tháng 3 năm 2021

– Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

– Bí thư Đảng ủy Công an huyện Đại Từ, Trưởng Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

24. Ứng cử tại đơn vị bầu cử số 02 gồm 02 xã: Hà Thượng, Phục Linh.

25. Tóm tắt chương trình hành động:

  1. Tích cực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng Công an toàn huyện thực hiện tốt công tác nắm tình hình, kịp thời tham mưu giải quyết bảo đảm an ninh trật tự tại địa phương.
  2. Góp phần cùng Ban Thường vụ Huyện ủy, Hội đồng nhân dân huyện đề ra những chủ trương, chính sách thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương, trong đó quan tâm, chú trọng nội dung liên quan việc giải quyết các vấn đề về an ninh trật tự, liên quan đến đền bù, giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường, tạo công ăn việc làm cho nhân dân thuộc các vùng dự án…
  3. Tôi sẽ tập trung công sức, trí tuệ, thời gian cùng tập thể HĐND huyện tham gia xây dựng, thẩm định, thẩm tra để huyện ban hành các chính sách, văn bản minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện và có tính khả thi, đảm bảo được quyền lợi của công dân, doanh nghiệp. Tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chiến sỹ Công an toàn huyện, tích cực học tập, trau dồi, nâng cao bản lĩnh chính trị, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện phẩm chất đạo đức, tư cách Người Công an cách mệnh… nhằm nâng cao chất lượng công tác, mang lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân.
  1. Thường xuyên gắn bó, tiếp xúc, lắng nghe nguyện vọng, ý kiến phản ánh, kiến nghị, góp ý của cử tri để đóng góp ý kiến tham gia có chất lượng, phù hợp với tình hình thực tế, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân./.

  1. Họ và tên thường dùng: TRẦN THU TRANG
  2. Họ và tên khai sinh: TRẦN THU TRANG

Các bí danh/tên gọi khác (nếu có): Không.

  1. Ngày, tháng, năm sinh: 25/01/1992Giới tính: Nữ;
  2. Quốc tịch: Chỉ có 01 quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và không trong thời gian thực hiện thủ tục xin gia nhập quốc tịch quốc gia khác.
  3. Nơi đăng ký khai sinh: Xã Hóa Thượng, Huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên
  4. Quê quán: Xã Công Đa, Huyện Yên Sơn, Tỉnh Tuyên Quang
  5. Nơi đăng ký thường trú: Xóm Tân Thái, Xã Hóa Thượng, Huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên
  6. Nơi ở hiện nay: Như trên
  7. Số CMND: 091691587

Ngày cấp: 11/3/2020                        Cơ quan cấp: Công an tỉnh Thái Nguyên.

  1.  Dân tộc: Kinh
  2. Tôn giáo: Không
  3. Trình độ:

– Giáo dục phổ thông: 12/12 phổ thông

– Chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Luật, chuyên ngành Quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân.

– Học vị: Không.                     Học hàm: Không.

– Lý luận chính trị: Trung cấp

– Ngoại ngữ: Anh B1

  1. Nghề nghiệp hiện nay: Công an
  2. Chức vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị đang công tác: Chi ủy viên Chi bộ Tổng hợp, Ủy viên Ban Chấp hành Đoàn thanh niên Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
  3. Nơi công tác: Đội Tổng hợp, Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Ngày vào Đảng: 09/09/2014

– Ngày chính thức 09/09/2015 ; Số thẻ đảng viên: 01 086 615

– Chức vụ trong Đảng: Chi ủy viên

– Ngày ra khỏi Đảng: Không

Lý do ra khỏi Đảng:  Không

  1. Tham gia làm thành viên của các tổ chức đoàn thể khác:

– Tên tổ chức đoàn thể: Đoàn Thanh niên Công an huyện Đại Từ

– Chức vụ trong từng tổ chức đoàn thể: Ủy viên Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Công an huyện

  1. Tình trạng sức khoẻ: Tốt
  2. Các hình thức khen thưởng nhà nước đã được trao tặng:; Giấy khenn của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên năm 2016; Giấy khen của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Nguyên năm 2016; Giấy khen của Giám đốc Công an tỉnh Thái Nguyên năm: 2017, 2020; Danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở năm 2017”; Giấy khen của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên năm 2017; Giấy khen của Ban Chỉ huy Quân sự huyện Đại Từ năm 2017; Giấy khen của Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Từ năm 2017; Giấy khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ năm 2017.
  3. Các hình thức kỷ luật, xử lý vi phạm đã bị áp dụng (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không bị kỷ luật, không có án tích.
  4. Là đại biểu Quốc hội: Không
  5. Là đại biểu Hội đồng nhân dân (nếu có): Không

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

Từ tháng, năm đến tháng, năm

Chức danh, chức vụ, đơn vị công tác (đảng, chính quyền, đoàn thể)

2010 – 2015

Học viên Trường Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an

2015 – 03/2021

Cán bộ Đội Tổng hợp, Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

(Chi ủy viên Chi bộ Tổng hợp, Đảng bộ Công an huyện Đại Từ ; Cán bộ; Ủy viên Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên)

23. Ứng cử tại đơn vị bầu cử số 5 gồm 03 xã: Phú Xuyên, Na Mao, Yên Lãng.

24. Tóm tắt chương trình hành động

  1. Luôn tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, tư tưởng, quan điểm, bản lĩnh chính trị của người cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật.
  2. Tham mưu thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch của cấp ủy cấp trên, của Công an tỉnh về an ninh trật tự, phục vụ đắc lực nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn huyện.
  3. Tích cực tham mưu thực hiện công tác cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phòng chống các hành vi tiêu cực, sách nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân.

4. Thực hiện đầy đủ chức trách nhiệm vụ của người đại biểu HĐND, chịu sự giám sát của nhân dân, thường xuyên liên hệ chặt chẽ với cử tri của đơn vị nơi công tác và nơi cư trú, báo cáo kịp thời, đầy đủ nội dung của các kỳ họp để cử tri và nhân dân nắm, kiểm tra, theo dõi, giám sát./.

 

Công an huyện Đại Từ giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả sau mưa lũ

23 Tháng Tư, 2021 Phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ, Tin mới, Tin tức hoạt động công an huyện

Rạng sáng ngày 22/4/2021, mưa to bất ngờ khiến cho một số nơi tại Thị trấn Quân Chu và xã Quân Chu, huyện Đại Từ xảy ra lũ. May mắn không có thiệt hại về người nhưng mưa lũ đã làm gãy đổ một số cột điện, nhiều nhà dân bị ngập nước, hư hỏng tài sản, đường đi bị sạt lở làm cô lập một số hộ dân tại xóm Chiểm, xã Quân Chu, cây đổ gây gián đoạn giao thông.

Mưa to bất ngờ gây lũ tại xã Quân Chu và TT Quân Chu

 

Trước tình hình trên, lực lượng Công an thị trấn Quân Chu, Công an xã Quân Chu phối hợp với lực lượng quân sự, cùng với các lực lượng xung kích tại địa phương lập chốt kiểm soát giao thông hướng dẫn nhân dân đi theo đường an toàn, nhanh chóng khắc phục hậu quả do mưa lũ, đảm bảo giao thông được thông suốt./.

T. Trang (Công an Đại Từ)

CÔNG AN HUYỆN ĐẠI TỪ: HƯỚNG DẪN TUYỂN SINH CÔNG AN NHÂN NĂM 2021

1 Tháng Tư, 2021 Tin mới, Tin tức hoạt động công an huyện

Căn cứ Hướng dẫn số 427/X02-P2 ngày 12/3/2021 của Cục Đào tạo, Bộ Công an về việc tuyển sinh Công an nhân dân năm 2021; Căn cứ Công văn số 2283/CAT-PX01 ngày 26/3/2021 của Giám đốc Công an tỉnh Thái Nguyên về việc hướng dẫn tuyển sinh CAND hệ chính quy tuyển mới năm 2021; Công an huyện Đại Từ thông báo cụ thể nội dung như sau:

A. QUY ĐỊNH CHUNG

Tuyển sinh trong CAND phải căn cứ vào các quy định hiện hành của Nhà nước về giáo dục, đào tạo kết hợp với yêu cầu xây dựng lực lượng CAND đạt trình độ, kiến thức theo tiêu chuẩn chức danh nghiệp vụ của từng cán bộ đang hoặc sẽ đảm nhận sau khi tốt nghiệp gắn với quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phục vụ yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng CAND.

– Ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào đối với tuyển sinh hệ đại học chính quy tuyển mới, trung cấp chính quy tuyển mới là điểm tối thiểu từng môn trong tổ hợp xét tuyển đạt từ 5.0 điểm trở lên (chưa nhân hệ số đối với thang điểm 10), trừ trường hợp có yêu cầu ngưỡng đảm bảo chất lượng cao hơn.

B. QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC CHÍNH QUY TUYỂN MỚI

  Thực hiện theo Quy chế thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) Quốc gia; Quy chế tuyển sinh hiện hành của Bộ GD&ĐT và quy định tại Hướng dẫn này.

1. Phương thức tuyển sinh, trường áp dụng và chỉ tiêu tuyển sinh

–  Phương thức 1: Tuyển thẳng theo quy chế tuyển sinh hiện hành của Bộ GD&ĐT. Áp dụng đối với tất cả các trường CAND.

– Phương thức 2: Xét tuyển kết hợp chứng chỉ quốc tế (chứng chỉ IELTS Academic hoặc chứng chỉ TOEFL iBT hoặc chứng chỉ HSK) với kết quả học tập THPT. Áp dụng đối với Học viện Quốc tế, Học viện Chính trị CAND, ngành Nghiệp vụ An ninh, Nghiệp vụ Cảnh sát.

– Phương thức 3: Xét tuyển theo kết quả thi tốt nghiệp THPT theo các tổ hợp (A00, A01, B00, C00, C03, D01, D04) kết hợp với kết quả học tập THPT. Áp dụng đối với tất cả các trường CAND, cụ thể:

+ Xét tuyển đào tạo các ngành nghiệp vụ An ninh, Cảnh sát: tổ hợp A00, A01, C03, D01;

+ Ngành An toàn thông tin tại Học viện ANND: tổ hợp A00, A01;

+ Các ngành do Học viện Chính trị CAND đào tạo: tổ hợp A01, C00, C03, D01;

+ Các ngành do Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND đào tạo: tổ hợp A00, A01;

+ Các ngành do Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy đào tạo: tổ hợp A00;

+ Ngành Ngôn ngữ Anh của Học viện Quốc tế: tổ hợp D01;

+ Ngành Ngôn ngữ Trung Quốc của Học viện Quốc tế: tổ hợp D01, D04;

+ Gửi đào tạo đại học ngành Bác sĩ đa khoa: tổ hợp B00.

– Chỉ tiêu xét tuyển được xác định theo từng trường, từng vùng, từng ngành, từng đối tượng (nam, nữ), từng phương thức tuyển sinh (có chi tiết tại Phụ lục 2 của hướng dẫn này).

– Mỗi thí sinh được tham gia xét tuyển nhiều phương thức tại một trường CAND.

– Trường hợp Phương thức 1 không tuyển đủ chỉ tiêu, thí sinh trúng tuyển theo Phương thức 1 không xác nhận nhập học hoặc thí sinh trúng tuyển trượt tốt nghiệp THPT thì chỉ tiêu chưa tuyển được sẽ chuyển sang xét tuyển theo Phương thức 2 (nếu trường có xét tuyển theo Phương thức 2) và ngược lại hoặc Phương thức 3 (nếu trường không xét tuyển theo Phương thức 2).

– Trường hợp Phương thức 1 và Phương thức 2 không tuyển đủ chỉ tiêu hoặc thí sinh trúng tuyển theo Phương thức 1 và Phương thức 2 không xác nhận nhập học hoặc thí sinh trúng tuyển trượt tốt nghiệp THPT thì chỉ tiêu chưa tuyển được sẽ chuyển hết sang xét tuyển theo Phương thức 3.

2. Đối tượng, điều kiện dự tuyển

2.1. Đối tượng

– Cán bộ Công an trong biên chế;

– Chiến sĩ nghĩa vụ Công an có thời gian công tác từ 15 tháng trở lên (tính đến tháng thi tốt nghiệp THPT); công dân hoàn thành nghĩa vụ Công an hoặc hoàn thành nghĩa vụ quân sự;

– Học sinh Trường Văn hóa CAND;

– Công dân thường trú theo quy định hiện hành tại địa phương nơi đăng ký sơ tuyển.

2.2. Điều kiện dự tuyển

Người dự tuyển ngoài đảm bảo các điều kiện theo quy định của Bộ GD&ĐT, phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Trong những năm học THPT hoặc tương đương đạt học lực từ trung bình trở lên (theo kết luận học bạ);

– Tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, tiêu chuẩn chính trị:

+ Học sinh phổ thông trong những năm học THPT đạt yêu cầu về hạnh kiểm từ loại Khá trở lên; tiêu chuẩn chính trị đảm bảo theo quy định hiện hành của Bộ Công an đối với việc tuyển người vào lực lượng CAND; chưa kết hôn, chưa có con (con đẻ).

+ Đối với công dân đang thực hiện nghĩa vụ tham gia CAND hoặc đã hoàn thành phục vụ có thời hạn trong CAND, hoàn thành nghĩa vụ quân sự, thời gian tại ngũ, hàng năm đều hoàn thành nhiệm vụ trở lên, không vi phạm kỷ luật từ mức khiển trách trở lên.

– Tiêu chuẩn về học lực:

+ Đối với học sinh phổ thông: Đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương, trong các năm học THPT hoặc tương đương đạt học lực từ trung bình trở lên theo kết luận tại học bạ. Không sơ tuyển học sinh lưu ban từ 01 năm trở lên trong các năm học THPT và tương đương. Các môn thuộc tổ hợp môn đăng ký xét tuyển vào trường CAND phải đạt 7.0 trở lên trong từng năm học THPT: Ví dụ: Thí sinh dự tuyển tổ hợp A00 thì điểm tổng kết năm lớp 10, 11, 12 (kỳ I/lớp 12 đối với thí sinh tốt nghiệp năm 2021) của môn Toán, Lý, Hóa phải đạt từ 7.0 trở lên mới đủ điều kiện đăng ký dự tuyển.

+ Đối với công dân đang thực hiện nghĩa vụ tham gia CAND, công dân hoàn thành nghĩa vụ tham gia CAND, hoàn thành nghĩa vụ quân sự: đã tốt nghiệp THPT và tương đương.

– Tiêu chuẩn về độ tuổi:

+ Đối với học sinh phổ thông không quá 22 tuổi, riêng học sinh là người dân tộc thiểu số không quá 25 tuổi (tính đến năm dự thi).

+ Công dân phục vụ có thời hạn trong CAND từ đủ 24 tháng trở lên (tính đến tháng dự thi). Công dân hoàn thành nghĩa vụ tham gia CAND hoặc hoàn thành nghĩa vụ quân sự trong Quân đội nhân dân được dự thi một lần trong thời gian 12 tháng kể từ ngày có quyết định xuất ngũ (không quy định độ tuổi).

– Tiêu chuẩn sức khỏe: Thí sinh dự thi phải đạt sức khỏe loại 1, loại 2 và đáp ứng các chỉ số đặc biệt theo Thông tư số 45/2019/TT-BCA ngày 02/10/2019 như: không mắc các bệnh kinh niên, mãn tính nhưng viêm gan B, HIV…; thể hình, thể trạng cân đối; không săm trổ; không có dị hình, dị dạng; không nghiện các chất ma túy…

+ Thí sinh nam: Chiều cao từ 1,62 m trở lên; cân nặng từ 48kg trở lên;

+ Thí sinh nữ: Chiều cao từ 1,58m trở lên; cân nặng từ 45kg trở lên.

– Tiêu chuẩn về thị lực: Tiếp tục chiếu cố các đối tượng bị cận thị được đăng ký dự tuyển vào các trường CAND nhưng phải đảm bảo điều kiện: Phải cam kết chữa khỏi khi trúng tuyển. Sau khi trúng tuyển, có giấy báo nhập học của các trường CAND phải chữa trị mắt đảm bảo tiêu chuẩn về thị lực theo quy định của Bộ Công an trước khi nhập học. Công an tỉnh Thái Nguyên sẽ kiểm tra lại thị lực đối với các trường hợp cận thị khi trúng tuyển, nếu không đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định sẽ không được nhập học.

Lưu ý: Thí sinh đã đăng ký sơ tuyển vào các trường CAND không đăng ký sơ tuyển vào các trường thuộc Bộ Quốc phòng (hệ quân sự). Trường hợp vi phạm sẽ hủy quyền xét tuyển vào các trường CAND

2.3. Điều kiện dự tuyển đối với thí sinh đăng ký dự tuyển theo từng phương thức

Ngoài đảm bảo các điều kiện dự tuyển chung, thí sinh đăng ký dự tuyển theo từng phương thức phải đáp ứng các điều kiện sau:

2.3.1. Đối với thí sinh dự tuyển theo Phương thức 1

– Về giải đoạt được:

+ Thí sinh được triệu tập tham dự kỳ thi chọn đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế; thí sinh trong đội tuyển quốc gia dự Cuộc thi khoa học, kỹ thuật quốc tế được Bộ GD&ĐT công nhận được xét tuyển thẳng một trong các trường CAND theo nguyện vọng của thí sinh;

+ Thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia bậc THPT môn Tiếng Anh được xét tuyển thẳng vào ngành Ngôn ngữ Anh của Học viện Quốc tế;

+ Thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia bậc THPT môn Tiếng Trung Quốc được xét tuyển thẳng vào ngành Ngôn ngữ Trung Quốc của Học viện Quốc tế;

+ Thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba môn Sinh học trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia bậc THPT hoặc đoạt giải nhất, nhì, ba trong Cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia một trong các lĩnh vực: Hóa Sinh, Y Sinh và khoa học Sức khỏe, Kỹ thuật Y Sinh, Sinh học tế bào và phân tử, Vi Sinh, Y học chuyển dịch được xét tuyển thẳng vào ngành Y khoa gửi đào tại Học viện Quân y – Bộ Quốc phòng;

+ Thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba môn Tin học trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia bậc THPT hoặc đoạt giải nhất, nhì, ba trong Cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia một trong các lĩnh vực: Hệ thống nhúng, Phần mềm hệ thống được tuyển thẳng vào Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND, ngành An toàn thông tin của Học viện ANND.

– Tốt nghiệp THPT năm 2021.

2.3.2. Đối với thí sinh dự tuyển theo Phương thức 2

– Có chứng chỉ quốc tế còn thời hạn tính đến ngày 01/07/2021 của một trong các chứng chỉ sau: IELTS (Academic) đạt từ 7.5 trở lên hoặc TOEFL iBT đạt từ 110 trở lên hoặc có chứng chỉ tiếng Trung Quốc HSK cấp 5 trở lên; riêng ngành Ngôn ngữ Trung Quốc của Học viện Quốc tế chỉ tiếp nhận thí sinh có chứng chỉ tiếng Trung Quốc HSK.

Đối với các thí sinh có dự định thi chứng chỉ quốc tế trên trong thời gian sơ tuyển thì vẫn cho đăng ký nhưng phải hoàn thành và nộp kết quả về tỉnh trước ngày 01/6/2021 hoặc trực tiếp nộp tại các trường CAND trước ngày 01/7/2021.

– Xếp loại học lực năm lớp 10, 11, 12 đạt loại giỏi.

Đối với thí sinh đang học lớp 12 vẫn cho đăng ký, sau khi có điểm tổng kết năm lớp 12, căn cứ quy định để xác định đạt điều kiện hay không.

– Tốt nghiệp trung học phổ thông đến thời điểm xác nhận nhập học.

2.3.3. Đối với thí sinh dự tuyển theo Phương thức 3

– Từng môn thuộc tổ hợp đăng ký dự tuyển vào trường CAND đạt từ 7.0 điểm trở lên trong từng năm học THPT, ví dụ: thí sinh dự tuyển tổ hợp A00 thì điểm tổng kết năm lớp 10, lớp 11, lớp 12 của môn Toán, môn Lý, môn Hóa phải đạt từ 7.0 trở lên mới đủ điều kiện đăng ký dự tuyển;

Đối với thí sinh học THPT có môn ngoại ngữ là ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh (đăng ký các ngành sử dụng môn tiếng Anh để xét tuyển) hoặc tiếng Trung Quốc (đăng ký các ngành sử dụng môn tiếng Trung Quốc để xét tuyển) nếu có nguyện vọng dự tuyển được sử dụng điểm của môn đó để sơ tuyển. Ví dụ, thí sinh học THPT có môn ngoại ngữ là tiếng Pháp đạt từ 7.0 trở lên trong từng năm và hai môn còn lại thuộc tổ hợp đủ điều kiện thì vẫn được dự tuyển (Lưu ý: thí sinh chỉ được đăng ký tổ hợp xét tuyển vào trường CAND là D01- Toán, Văn, tiếng Anh, A01- Toán, Lý, tiếng Anh; D04- Toán, Văn, tiếng Trung Quốc).

– Cán bộ Công an, chiến sĩ nghĩa vụ tại ngũ, công dân hoàn thành nghĩa vụ Công an hoặc hoàn thành nghĩa vụ quân sự, học sinh Trường Văn hóa CAND: từng môn thuộc tổ hợp đăng ký dự tuyển vào trường CAND đạt từ 6.5 điểm trở lên trong từng năm học THPT.

– Thí sinh dự tuyển tổ hợp B00 (xét tuyển gửi đào tạo Bác sĩ đa khoa): từng môn thuộc tổ hợp đăng ký dự tuyển vào trường CAND đạt từ 7.0 điểm trở lên trong từng năm học THPT (đối với công dân thường trú tại nơi đăng ký sơ tuyển), 6.5 điểm trở lên trong từng năm học THPT (đối với cán bộ Công an, chiến sĩ nghĩa vụ tại ngũ, công dân hoàn thành nghĩa vụ Công an hoặc hoàn thành nghĩa vụ quân sự, học sinh Trường Văn hóa CAND); học lực năm lớp 12 đạt loại giỏi; trung bình cộng 03 môn Toán, Hóa, Sinh trong 03 năm học THPT hoặc tương đương phải đạt từ 8.0 trở lên;

– Đối với thí sinh đang học lớp 12 vẫn cho đăng ký sơ tuyển, sau khi có điểm tổng kết năm lớp 12, căn cứ quy định để xác định đạt điều kiện hay không;

– Tốt nghiệp trung học phổ thông đến thời điểm xác nhận nhập học;

2.3.4. Điều kiện đối với các thí sinh ưu tiên cộng điểm khi xét tuyển theo Phương thức 3

– Tiêu chuẩn về giải:

+ Thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba, khuyến khích trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia bậc THPT một trong các môn: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Tiếng Anh, Tiếng Trung khi xét tuyển các ngành có môn đoạt giải là môn thành phần của tổ hợp đăng ký xét tuyển;

+ Thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba, khuyến khích trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia bậc THPT môn Tin học hoặc đoạt giải nhất, nhì, ba, khuyến khích trong Cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia một trong các lĩnh vực: Hệ thống nhúng, Phần mềm hệ thống khi xét tuyển ngành An toàn thông tin, các ngành do Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND đào tạo;

+ Thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba, khuyến khích trong Cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia một trong các lĩnh vực: Hóa Sinh, Y Sinh và khoa học Sức khỏe, Kỹ thuật Y Sinh, Sinh học tế bào và phân tử, Vi Sinh, Y học chuyển dịch khi xét tuyển ngành Y;

+ Thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba, khuyến khích trong Cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia một trong các lĩnh vực: Hóa học, Hệ thống nhúng, Khoa học vật liệu, Vật lý và Thiên văn khi xét tuyển vào Trường Đại học PCCC.

– Tốt nghiệp THPT năm 2021.

2.3.5. Các trường hợp được xem xét tiêu chuẩn điều kiện về học lực của tổ hợp xét tuyển khi xét tuyển theo Phương thức 3

– Các trường hợp được quy định tại mục 2.2.3.1 (khi không đủ điều kiện tuyển thẳng) và 2.2.3.4 (đối tượng được ưu tiên cộng điểm xét tuyển);

– Thí sinh đoạt huy chương vàng, bạc, đồng các giải quốc gia (toàn quốc) trở lên thuộc lĩnh vực võ thuật, bơi lội, điền kinh hoặc thí sinh được Tổng cục Thể dục thể thao có quyết định công nhận là kiện tướng quốc gia thuộc lĩnh vực võ thuật, bơi lội, điền kinh;

– Thí sinh là con đẻ của người có công với Cách mạng theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14, gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; thương binh, bao gồm cả thương binh loại B được công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993; người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày; người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế; người có công giúp đỡ cách mạng;

Các đối tượng trên nếu có nguyện vọng xét tuyển vào các trường CAND thì tiêu chuẩn về học lực của tổ hợp đăng ký xét tuyển được hạ 0.5 điểm.

3. Sơ tuyển

3.1. Đăng ký sơ tuyển, lệ phí sơ tuyển

– Học sinh phổ thông (gồm cả học sinh đã tốt nghiệp các năm trước), công dân hoàn thành nghĩa vụ CAND hoặc nghĩa vụ quân sự đăng ký sơ tuyển tại Công an cấp huyện nơi đăng ký hộ khẩu thường trú;

– Cán bộ, chiến sĩ CAND (bao gồm cả chiến sĩ nghĩa vụ) đăng ký sơ tuyển tại đơn vị công tác;

– Nghiêm cấm thí sinh đăng ký sơ tuyển tại nhiều Ban tuyển sinh thuộc BCA hoặc sơ tuyển cả Ban tuyển sinh BCA và Ban tuyển sinh Quân sự. Công an các đơn vị, địa phương thông báo rõ cho người dự tuyển nếu vi phạm sẽ không được xét tuyển vào các trường CAND;

– Lệ phí sơ tuyển: thí sinh nộp 100.000đ để phục vụ công tác sơ tuyển (ngoài lệ phí khám sức khỏe).

3.2. Thủ tục đăng ký sơ tuyển

Người đăng ký sơ tuyển phải trực tiếp đến đăng ký và mang theo bản chính hoặc bản sao được chứng thực từ bản chính hộ khẩu, học bạ, giấy khai sinh kèm theo giấy chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân. Đối với công dân hoàn thành nghĩa vụ CAND hoặc nghĩa vụ quân sự ngoài các giấy tờ trên, mang thêm quyết định xuất ngũ;

– Quy trình sơ tuyển gồm:

+ Kiểm tra học lực tại học bạ (áp dụng đối với tất cả các đối tượng);

+ Kiểm tra hạnh kiểm tại học bạ (áp dụng với học sinh Trường Văn hóa CAND; công dân thường trú theo quy định hiện hành tại địa phương nơi đăng ký sơ tuyển);

+ Xét phẩm chất đạo đức (áp dụng với cán bộ công an, chiến sĩ nghĩa vụ tại ngũ, xuất ngũ);

+ Kiểm tra sức khỏe (áp dụng đối với tất cả các đối tượng);

+ Thẩm tra, xác minh, kết luận tiêu chuẩn chính trị (áp dụng đối với tất cả đối tượng theo quy định về thẩm tra lý lịch trong CAND).

– Tổ chức kiểm tra sức khỏe tại Bệnh xá Công an tỉnh:

Căn cứ lịch khám sức khỏe, các đơn vị có trách nhiệm thông báo và hướng dẫn thí sinh đến khám đúng thời gian quy định, đồng thời cử 01 cán bộ làm công tác tuyển sinh tham gia để phối hợp khi có yêu cầu.

Lệ phí khám sức khoẻ: 440.000 đồng/thí sinh (gồm cả các xét nghiệm cần thiết; lệ phí các đơn vị nộp trực tiếp tại Bệnh xá Công an tỉnh).

4. Hồ sơ tuyển sinh

4.1. Hồ sơ chung cho tất cả thí sinh

– Bìa hồ sơ tuyển sinh;

– Lý lịch tự khai;

– Thẩm tra lý lịch;

– Đơn xin dự tuyển vào các trường CAND.

4.2. Hồ sơ đối với thí sinh dự tuyển theo Phương thức 1

– Phiếu đăng ký xét tuyển đại học CAND (theo mẫu của BCA);

– Phiếu đăng ký xét tuyển thẳng theo mẫu của Bộ GD&ĐT;

– Bản sao được chứng thực từ bản chính giấy chứng nhận là thành viên được triệu tập tham dự kỳ thi chọn đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế hoặc chứng nhận là thành viên đội tuyển tham dự cuộc thi Khoa học kỹ thuật quốc tế (có tên trong danh sách của Bộ GD&ĐT) hoặc giấy chứng nhận đoạt giải Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia bậc THPT hoặc giấy chứng nhận đoạt giải Cuộc thi Khoa học kỹ thuật quốc gia;

– Bản sao được chứng thực từ bản chính học bạ THPT của thí sinh;

– Bản photo giấy báo dự thi tốt nghiệp THPT của thí sinh (trừ đối tượng miễn thi tốt nghiệp theo quy định của Bộ GĐ&ĐT);

– Bản photo chứng minh nhân dân (thẻ căn cước công dân) của thí sinh;

– Thí sinh thuộc diện xét tuyển thẳng nộp 30.000 đồng lệ phí xét tuyển.

4.3. Hồ sơ đối với thí sinh dự tuyển theo Phương thức 2

– Phiếu đăng ký xét tuyển đại học CAND (theo mẫu của BCA);

– Bản sao được chứng thực từ bản chính giấy chứng nhận kết quả điểm ngoại ngữ IELTS (Academic) hoặc TOEFL iBT hoặc có chứng chỉ tiếng Trung Quốc HSK. Trường hợp đang chờ cấp phải có bản sao phiếu hẹn nhận kết quả hoặc cam đoan của thí sinh nộp trước ngày 01/6/2021 (tại Công an đơn vị, địa phương) hoặc trước ngày 01/7/2021 (tại các trường CAND);

– Bản sao được chứng thực từ bản chính học bạ THPT của thí sinh;

– Bản photo chứng minh nhân dân (thẻ căn cước công dân) của thí sinh;

– Bản photo giấy báo dự thi tốt nghiệp THPT của thí sinh;

– Thí sinh thuộc diện xét tuyển nộp 30.000 đồng lệ phí xét tuyển.

4.4. Hồ sơ đối với thí sinh dự tuyển theo Phương thức 3

– Phiếu đăng ký xét tuyển đại học CAND (theo mẫu của BCA);

– Bản photo Phiếu đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT theo mẫu của Bộ GD&ĐT (thí sinh đã khai và nộp tại điểm tiếp nhận thi tốt nghiệp THPT);

– Bản photo chứng minh nhân dân (thẻ căn cước công dân) của thí sinh;

– Các tài liệu chứng minh để hưởng đối tượng ưu tiên, khu vực ưu tiên trong tuyển sinh của thí sinh (nếu có);

– Bản sao được chứng thực từ bản chính Giấy chứng nhận đoạt giải Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia bậc THPT hoặc Giấy chứng nhận đoạt giải Cuộc thi Khoa học kỹ thuật quốc gia (nếu có) trong trường hợp thí sinh đăng ký xét tuyển vừa Phương thức 1 vừa Phương thức 3;

– Bản sao được chứng thực từ bản chính giấy chứng nhận kết quả điểm ngoại ngữ IELTS (Academic) hoặc TOEFL iBT hoặc có chứng chỉ tiếng Trung Quốc HSK (nếu có) trong trường hợp thí sinh đăng ký xét tuyển vừa Phương thức 2 vừa Phương thức 3;

– Bản photo giấy báo dự thi tốt nghiệp THPT của thí sinh;

– Bản sao được chứng thực từ bản chính học bạ THPT của thí sinh.

5. Tổ chức xét tuyển

5.1. Xét tuyển đối với thí sinh xét tuyển theo Phương thức 1

– Tổ chức xét tuyển sau khi hoàn thành nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển.

– Căn cứ chỉ tiêu được giao, số lượng hồ sơ xét tuyển nộp về, các trường CAND tổ chức xét tuyển thẳng. Trường hợp nếu lấy hết sẽ vượt chỉ tiêu phân bổ thì xét trúng tuyển theo thứ tự như sau:

+ Thứ nhất, xét thí sinh được triệu tập tham dự kỳ thi chọn đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế, trong đội tuyển quốc gia dự Cuộc thi khoa học, kỹ thuật quốc tế;

+ Thứ hai, xét thí sinh đoạt giải nhất trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia hoặc cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia;

+ Thứ ba, xét thí sinh đoạt giải nhì trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia hoặc cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia;

+ Thứ tư, xét thí sinh đoạt giải ba trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia hoặc cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia;

+ Thứ năm, xét thí sinh có điểm trung bình cộng kết quả học tập 3 năm THPT lớp 10, 11, 12 từ cao đến thấp cho đến hết chỉ tiêu.

– Trường hợp tuyển không đủ chỉ tiêu thì chỉ tiêu chưa tuyển đủ sẽ được chuyển sang chỉ tiêu xét tuyển theo Phương thức 2 (nếu trường có xét tuyển theo Phương thức 2) hoặc Phương thức 3 (nếu trường không xét tuyển theo Phương thức 2).

– Trường hợp thí sinh không trúng tuyển Phương thức 1, nếu có nguyện vọng được tham gia xét tuyển theo Phương thức 2, Phương thức 3 (nếu nộp đủ hồ sơ và đảm bảo điều kiện theo quy định).

5.2. Xét tuyển đối với thí sinh xét tuyển theo Phương thức 2

– Tổ chức xét tuyển sau khi hoàn thành nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển.

– Xác định số lượng chỉ tiêu:

Căn cứ tỷ lệ thí sinh đủ điều kiện xét tuyển ở từng nhóm chứng chỉ ngoại ngữ (IELTS Academic, TOEFL iBT, HSK) so với tổng số thí sinh đủ điều kiện của Phương thức 2 để xác định chỉ tiêu trúng tuyển cho từng chứng chỉ ngoại ngữ.

+ Đối với nam: Trường hợp chỉ tiêu trúng tuyển cho từng chứng chỉ không tròn thì lấy theo phần số nguyên trước, trường hợp phần nguyên không đủ 1 chỉ tiêu thì làm tròn thành 1 chỉ tiêu, sau đó căn cứ vào tỷ lệ phần dư còn lại (không áp dụng đối với nhóm chứng chỉ có phần nguyên dưới 1) để phân phối lần lượt cho từng nhóm chứng chỉ theo tỷ lệ từ cao xuống thấp đảm bảo đủ chỉ tiêu được giao.

+ Đối với nữ: Trường hợp chỉ tiêu trúng tuyển cho từng chứng chỉ không tròn thì lấy theo phần số nguyên trước, sau đó căn cứ vào tỷ lệ phần dư còn lại để phân phối lần lượt cho từng nhóm chứng chỉ theo tỷ lệ từ cao xuống thấp đảm bảo đủ chỉ tiêu được giao.

–  Trường hợp nếu lấy hết sẽ vượt chỉ tiêu phân bổ thì xét trúng tuyển theo thứ tự như sau:

+ Thứ nhất, lấy thí sinh có điểm IELTS Academic, TOEFL iBT, HSK xét trong từng chứng chỉ lần lượt từ cao đến thấp;

+ Thứ hai, xét thí sinh có điểm trung bình cộng kết quả học tập 3 năm THPT lớp 10, 11, 12 từ cao đến thấp;

+ Thứ ba, xét thí sinh có điểm trung bình cộng kết quả học tập môn ngoại ngữ 3 năm THPT lớp 10, 11, 12 từ cao đến thấp.

– Trường hợp tuyển không đủ chỉ tiêu thì chỉ tiêu chưa tuyển đủ sẽ được chuyển sang chỉ tiêu xét tuyển theo Phương thức 1 (nếu trường có xét tuyển theo Phương thức 1) hoặc Phương thức 3 (nếu Phương thức 1 đã hết nguồn tuyển).

– Trường hợp thí sinh không trúng tuyển Phương thức 2, nếu có nguyện vọng được tham gia xét tuyển theo Phương thức 1 hoặc Phương thức 3 (nếu nộp đủ hồ sơ và đảm bảo điều kiện theo quy định).

5.3. Xét tuyển đối với thí sinh xét tuyển theo Phương thức 3

– Điều kiện xét tuyển: Thí sinh đã đạt sơ tuyển, nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển về các trường CAND, đăng ký nguyện vọng xét tuyển chính thức vào các trường CAND là nguyện vọng 1, đảm bảo ngưỡng chất lượng đầu vào theo quy định của Bộ GD&ĐT và quy định của BCA. Các trường đề xuất ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào của trường (nếu cao hơn ngưỡng quy định tại Mục 1 và quy định của Bộ GD&ĐT) gửi Cục Đào tạo để báo cáo Bộ quyết định trước khi công bố.

– Dữ liệu xét tuyển: Là dữ liệu nhận từ Cổng thông tin tuyển sinh của Bộ GD&ĐT, gồm: dữ liệu mã trường, mã ngành, mã tổ hợp xét tuyển hợp lệ (sau khi đã được kiểm tra, đối chiếu theo quy định), điểm thi từng môn, riêng dữ liệu về khu vực ưu tiên, đối tượng ưu tiên, điểm học bạ THPT của thí sinh lấy theo dữ liệu của BCA (sau khi đã được Công an các đơn vị, địa phương và các trường CAND kiểm dò).

– Điểm xét tuyển là tổng điểm của 03 môn thuộc tổ hợp xét tuyển vào trường CAND và điểm trung bình cộng kết quả học tập 3 năm THPT lớp 10, 11, 12 được quy về thang điểm 30 làm tròn đến 02 chữ số thập phân cộng với điểm ưu tiên khu vực, ưu tiên đối tượng theo quy chế của Bộ GD&ĐT, điểm thưởng theo quy định của BCA. Công thức tính như sau:

ĐXT = ((M1+M2+M3)+(L10+L11+L12)/3)x3/4+KV+ĐT+ĐTh, trong đó:

+ ĐXT: điểm xét tuyển

+ M1, M2, M3: điểm 03 môn thuộc tổ hợp môn xét tuyển vào trường CAND

+ L10, L11, L12: điểm tổng kết 03 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12

+ KV: điểm ưu tiên khu vực theo quy chế của Bộ GD&ĐT

+ ĐT: điểm ưu tiên đối tượng theo quy chế của Bộ GD&ĐT

+ ĐTh: điểm thưởng cho thí sinh đoạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia bậc THPT, cuộc thi khoa học kỹ thuật quốc gia theo quy định của BCA.

Riêng các thí sinh đã hoàn thành chương trình các môn văn hóa phổ thông trong chương trình đào tạo trung cấp nghề: Điểm trung bình học tập tương đương điểm trung bình cộng kết quả học tập 3 năm THPT lớp 10, 11, 12 để tính điểm xét tuyển vào trường CAND là trung bình cộng điểm từng môn văn hóa THPT trong cả khóa học theo hệ số của từng môn và làm tròn đến 02 chữ số thập phân, theo công thức sau:

ĐTB= ((ĐM1 x hệ số môn 1) + (ĐM2 x hệ số môn 2)+…+ (ĐMn x hệ số môn n))/(hệ số môn 1 + hệ số môn 2 +…+ hệ số môn n).

– Xác định chỉ tiêu trúng tuyển

+ Chỉ tiêu trúng tuyển cho từng vùng, từng ngành, từng đối tượng, từng tổ hợp được xác định trước khi xây dựng phương án điểm xét tuyển (sau khi đã xét và xác nhận nhập học đối với thí sinh trúng tuyển theo Phương thức 1 và Phương thức 2 và trừ đi số thí sinh đã trúng tuyển, xác nhận nhập học theo Phương thức 1, Phương thức 2 (nếu có) trong danh sách đăng ký xét tuyển theo từng tổ hợp).

+ Các trường CAND căn cứ điều kiện xét tuyển để xác định chỉ tiêu theo tỷ lệ số lượng thí sinh đủ điều kiện xét tuyển của từng tổ hợp trên tổng số thí sinh đủ điều kiện theo ngành, theo đối tượng, theo vùng tuyển sinh.

+ Chỉ tiêu trúng tuyển được xác định căn cứ vào tỷ lệ nêu trên, trường hợp chỉ tiêu trúng tuyển cho từng tổ hợp không tròn thì lấy theo phần số nguyên trước, trường hợp phần nguyên không đủ 1 chỉ tiêu thì làm tròn thành 1 chỉ tiêu, sau đó căn cứ vào tỷ lệ phần dư còn lại (không áp dụng đối với tổ hợp có phần nguyên dưới 1) để phân phối lần lượt cho từng tổ hợp theo tỷ lệ từ cao xuống thấp đảm bảo đủ chỉ tiêu được giao (được xử lý tự động bằng phần mềm tuyển sinh CAND).

– Đối với các thí sinh đủ điều kiện xét tuyển và được quy định của Thông báo này (bao gồm thí sinh không trúng tuyển theo Phương thức 1 tham gia đăng ký xét tuyển theo Phương thức 3), điểm thưởng được tính như sau: giải nhất được cộng 1.0 điểm, giải nhì được cộng 0.75 điểm, giải ba được cộng 0.5 điểm, giải khuyến khích được cộng 0.25 điểm. Thí sinh đoạt nhiều giải chỉ được cộng điểm thưởng của một giải cao nhất. Điểm được các trường cộng cho thí sinh trước khi xây dựng phương án điểm.

C. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM ĐĂNG KÝ

Thời gian đăng ký dự thi vào các trường CAND năm 2021 từ ngày 01/4/2021 đến ngày 15/04/2021 trong giờ làm việc các ngày hành chính, tại Đội Tổng hợp Công an huyện Đại Từ (Tầng 1, Nhà B Công an huyện). Quá thời gian trên không tiếp nhận đăng ký dự thi.

Thí sinh đăng ký sơ tuyển đúng 13 giờ 30 phút ngày Thứ sáu 23/04/2021 có mặt tại Bệnh xá Công an tỉnh Thái Nguyên để khám sức khỏe. Địa chỉ: Ngõ 100, đường Minh Cầu, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (Khi đi mang theo chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân để đối chiếu)

Thí sinh đến đăng ký dự thi phải mang theo các giấy tờ nêu trên, mọi thông tin cần biết sẽ được hướng dẫn tại nơi đăng ký hoặc qua số điện thoại 02083.824.392 của Đội Tổng hợp – Công an huyện Đại Từ hoặc liên hệ trực tiếp đồng chí Đỗ Quang Huy – Cán bộ tuyển sinh theo số điện thoại 0962.472.940 để được hướng dẫn./.

CÁC GIẤY TỜ CẦN MANG THEO KHI ĐẾN ĐĂNG KÝ

DỰ THI CÁC TRƯỜNG CAND NĂM 2021

  1. 1. Sổ hộ khẩu (phô tô công chứng)
  2. 2. Học bạ Trung học phổ thông (phô tô công chứng)

(Bằng Tốt nghiệp THPT áp dụng với thí sinh đã tốt nghiệp – photo công chứng)

  1. Giấy khai sinh (Bản sao dấu đỏ hoặc công chứng)
  2. Chứng minh nhân dân của bản thân (Photo công chứng)

– Chứng minh nhân dân của bố mẹ đẻ, anh chị em ruột, ông bà nội, ông bà ngoại (photo – không cần công chứng)

  1. Giấy xác nhận đoàn viên.
  2. Lệ phí sơ tuyển
  3. Bản cam đoan chữa trị mắt (có chữ ký của thí sinh và gia đình) đối với các thí sinh bị cận thị.
  4. Ảnh thẻ (04 ảnh 4×6 cm, nền xanh, áo có cổ)
  5. 9. Các giấy tờ ưu tiên (thuộc diện ưu tiên)

Triển khai thực hiện Quy định 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền trong Công an nhân dân

30 Tháng Sáu, 2020 Tin mới

BỘ CHÍNH TRỊ
——–

  ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
—————

Số: 205-QĐ/TW

Hà Nội, ngày 23 tháng 9 năm 2019

QUY ĐỊNH

VỀ VIỆC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ VÀ CHỐNG CHẠY CHỨC, CHẠY QUYỀN

– Căn cứ Điều lệ Đảng;

– Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XII,

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng Đảng, Bộ Chính trị quy định về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền như sau:

I- QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

  1. Quy định này quy định về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.
  2. Quy định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác cán bộ.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

  1. Quyền lực trong công tác cán bộ là thẩm quyền của tổ chức, cá nhân trong việc tuyển dụng, bố trí, quản lý, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, phong, thăng cấp bậc hàm, giới thiệu ứng cử, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ.
  2. Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác cán bộ; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong công tác cán bộ.
  3. Cơ quan được giao thực hiện công tác cán bộ bao gồm:

– Cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, quyết định về công tác cán bộ, nhân sự theo thẩm quyền là cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị.

– Ban tổ chức của cấp ủy, cơ quan tổ chức – cán bộ, cơ quan nội vụ, các cơ quan được giao phối hợp trong công tác đề xuất, nhận xét, đánh giá, thẩm định cán bộ.

  1. Nhân sự là người đang được các cấp có thẩm quyền xem xét, thực hiện quy trình công tác cán bộ.

II- KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ

Điều 3. Đối với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị

  1. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nguyên tắc, quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; thường xuyên tự kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh những sai sót và chịu trách nhiệm về những hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ thuộc phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm được giao.
  2. Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định, quy chế về công tác cán bộ. Quy định cụ thể trách nhiệm của tập thể, cá nhân; quy trình, thủ tục, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch trong từng khâu về công tác cán bộ.
  3. Thường xuyên kiểm tra, giám sát các cơ quan tham mưu, giúp việc, các cơ quan cấp dưới và cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý trong thực hiện nhiệm vụ về công tác cán bộ. Chấn chỉnh, xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi vi phạm các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ và Quy định này.
  4. Bảo vệ và khen thưởng kịp thời cá nhân phát hiện, phản ánh, tố cáo vi phạm trong công tác cán bộ. Xử lý nghiêm những người lợi dụng việc này để tố cáo hoặc lan truyền các thông tin sai sự thật nhằm hạ uy tín người khác.
  5. Điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với những người được phân công làm công tác nhân sự hoặc theo dõi công tác cán bộ tại một địa bàn, lĩnh vực đã đảm nhiệm công việc 5 năm liên tiếp hoặc khi thấy cần thiết.
  6. Không bố trí những người có quan hệ gia đình (vợ, chồng, bố, mẹ của vợ hoặc chồng, con, anh chị em ruột) cùng đảm nhiệm các chức danh có liên quan như: Bí thư, phó bí thư, trưởng ban tổ chức, chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra cùng cấp uỷ; chủ tịch Ủy ban nhân dân và người đứng đầu cơ quan nội vụ, thanh tra cùng cấp ở một địa phương; thành viên trong cùng ban cán sự đảng, đảng đoàn; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong cùng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Điều 4. Đối với thành viên cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị

  1. Thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của mình trong công tác cán bộ. Phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực đến cấp có thẩm quyền những nội dung có liên quan đến nhân sự mà cá nhân được phân công theo dõi, quản lý. Thể hiện rõ chính kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình, được bảo lưu ý kiến.
  2. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện, việc làm trái với các quy định của Đảng, Nhà nước trong công tác cán bộ.
  3. Chịu trách nhiệm cá nhân trong việc đề xuất nhân sự và trong việc nhận xét, đánh giá, xác nhận hồ sơ, lý lịch, các giấy tờ có liên quan của nhân sự thuộc thẩm quyền phụ trách. Với tư cách là thành viên, chịu trách nhiệm liên đới đối với từng quyết định không đúng về công tác cán bộ của tập thể lãnh đạo, trừ trường hợp đã có ý kiến không đồng ý trong quá trình thực hiện quy trình công tác cán bộ và báo cáo cấp có thẩm quyền bằng văn bản (hoặc ý kiến đã được ghi nhận trong biên bản cuộc họp).
  4. Tự giác báo cáo với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo quản lý khi có người thân (bố, mẹ, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột) là người có quyền, lợi ích liên quan đến việc thực hiện quy trình công tác cán bộ.
  5. Chịu trách nhiệm khi để xảy ra tiêu cực, sai phạm trong công tác cán bộ ở địa phương, cơ quan, đơn vị, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách.
  6. Nghiêm cấm các hành vi sau:
  7. a) Cung cấp hoặc tiết lộ thông tin, tài liệu, hồ sơ cán bộ, đảng viên cho tổ chức và cá nhân không có thẩm quyền, trách nhiệm, nhất là những thông tin, tài liệu, hồ sơ nhân sự đang trong quá trình thực hiện quy trình công tác cán bộ.
  8. b) Xen ghép ý đồ cá nhân, đề ra tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt, không đúng bản chất, không đúng sự thật nhằm vụ lợi hoặc có lợi cho nhân sự trong quá trình tham mưu thực hiện quy trình công tác cán bộ.
  9. c) Để người khác, nhất là vợ, chồng, bố, mẹ, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để thao túng, can thiệp công tác cán bộ.
  10. d) Gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi với nhân sự trái quy định trong quá trình thực hiện công tác cán bộ.

đ) Các hành vi quy định tại Điều 10 và Điều 11 Quy định này.

Điều 5. Đối với người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị

Ngoài việc thực hiện các nội dung tại Điều 4, còn phải thực hiện:

  1. Chỉ đạo thực hiện nghiêm nguyên tắc, quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ. Công khai, minh bạch các nội dung về công tác cán bộ cho các đối tượng có liên quan theo quy định. Chỉ đạo chuẩn bị đầy đủ hồ sơ nhân sự và cung cấp cho các thành viên liên quan theo quy chế làm việc của cấp uỷ, tổ chức, cơ quan, đơn vị hoặc quy định của cấp có thẩm quyền. Sau khi có chủ trương của cấp có thẩm quyền, chỉ đạo thực hiện quy trình nhân sự đúng thời gian quy định.
  2. Triệu tập đầy đủ, đúng thành phần theo quy định khi họp bàn về công tác cán bộ; dành thời gian thỏa đáng để tập thể thảo luận thật sự dân chủ; không được có biểu hiện vận động, tranh thủ, dẫn dắt, thao túng, áp đặt ý kiến chủ quan, tác động, gây nhiễu thông tin, gây sức ép để người khác nhận xét, đánh giá, biểu quyết, bỏ phiếu, quyết định nhân sự theo ý mình.
  3. Đề xuất rõ ràng, cụ thể về yêu cầu, tiêu chuẩn, cơ cấu, điều kiện, quy trình giới thiệu, đánh giá nhân sự. Kết luận đầy đủ, chính xác, trung thực, khách quan những nội dung thảo luận và chịu trách nhiệm về kết luận của mình khi chủ trì hội nghị về công tác cán bộ.
  4. Bố trí thời gian, không gian bảo đảm cho các thành viên độc lập, khách quan khi ghi phiếu biểu quyết, phiếu giới thiệu, phiếu tín nhiệm. Không vận dụng các cách thức biểu quyết khác quy định.
  5. Báo cáo kịp thời, đầy đủ, trung thực, khách quan, đúng bản chất ý kiến của tập thể lãnh đạo với cấp có thẩm quyền, nhất là những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về công tác cán bộ.
  6. Kể từ khi có thông báo nghỉ hưu, nghỉ chờ hưu hoặc chuyển công tác, phải báo cáo bằng văn bản và phải được cấp trên trực tiếp đồng ý trước khi thực hiện quy trình công tác cán bộ theo thẩm quyền được phân cấp.

Điều 6. Đối với người đứng đầu các cơ quan, đơn vị được giao thực hiện công tác cán bộ ở các cấp

– Chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ và Quy định này.

– Chịu trách nhiệm trước cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo đối với những đề xuất, nhận xét, đánh giá, thẩm định nhân sự, hồ sơ nhân sự.

– Chỉ đạo tổng hợp, báo cáo kịp thời, đầy đủ, trung thực cho cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo những ý kiến khác nhau về nhân sự của các cơ quan được giao thực hiện công tác cán bộ.

– Thường xuyên kiểm tra, giám sát đối với cán bộ được giao làm công tác cán bộ thuộc cơ quan, đơn vị mình. Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ và Quy định này.

Điều 7. Đối với cán bộ tham mưu, đề xuất

  1. Nắm vững, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nguyên tắc, quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ; tình hình và yêu cầu về cán bộ ở địa bàn, lĩnh vực được phân công theo dõi. Bảo đảm khách quan, công tâm, trung thực, chính xác, thận trọng, chặt chẽ trong tham mưu về công tác cán bộ.
  2. Chịu trách nhiệm về đề xuất của mình và tính chính xác, kịp thời của hồ sơ nhân sự. Báo cáo bằng văn bản với cấp có thẩm quyền về nhân sự và phương án nhân sự thuộc địa bàn được phân công theo dõi.
  3. Kịp thời phát hiện, báo cáo bằng văn bản với cấp có thẩm quyền những dấu hiệu tiêu cực, sai phạm trong công tác cán bộ ở địa bàn, lĩnh vực được phân công theo dõi và kiến nghị việc xử lý.
  4. Chấp hành Khoản 5, Điều 3 và Khoản 2, 4, 6 Điều 4 Quy định này.
  5. Nghiêm cấm các hành vi:
  6. a) Nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà, kéo dài thời gian, đặt điều kiện đối với nhân sự và cơ quan trình nhân sự.
  7. b) Các hành vi quy định tại Điều 10 và Điều 11 Quy định này.

Điều 8. Đối với nhân sự

  1. Báo cáo kịp thời, đầy đủ, chính xác, rõ ràng hồ sơ lý lịch đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và kê khai trung thực tài sản, thu nhập theo quy định.
  2. Tự giác không ứng cử, không nhận đề cử, quy hoạch, bổ nhiệm, phong, thăng cấp bậc hàm, khen thưởng, chế độ, chính sách nếu bản thân thấy không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất, uy tín, năng lực, sức khỏe.
  3. Nghiêm cấm việc trực tiếp hoặc thông qua người khác, phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội để phát tán thông tin không đúng sự thật, tố cáo sai sự thật nhằm đề cao bản thân, hạ thấp uy tín người khác trong công tác cán bộ.
  4. Nghiêm cấm các hành vi quy định tại Điều 10 Quy định này.

Điều 9. Xử lý trách nhiệm

  1. Tập thể, cá nhân vi phạm các nội dung nêu tại Điều 3 và Điều 6 của Quy định này thì phải kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan để xử lý theo quy định.
  2. Cán bộ, đảng viên (kể cả những người đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu) vi phạm các nội dung nêu tại các Điều 4, 5, 7, 8 của Quy định này thì bị xử lý theo quy định hiện hành. Ngoài ra, nếu là cán bộ đang công tác còn bị áp dụng các biện pháp xử lý như sau:
  3. a) Đình chỉ công tác, chức vụ, không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, thanh tra.
  4. b) Tạm dừng có thời hạn theo quy định của cấp có thẩm quyền việc quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phong, thăng cấp bậc hàm, giới thiệu ứng cử chức vụ cao hơn hoặc tương đương, công nhận chức danh, phong tặng danh hiệu, khen thưởng.
  5. c) Hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ.

III- CHỐNG CHẠY CHỨC, CHẠY QUYỀN

Điều 10. Hành vi chạy chức, chạy quyền

  1. Tiếp cận, thiết lập quan hệ, hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm mục đích có được vị trí, chức vụ, quyền lợi.
  2. Tranh thủ mọi lúc, mọi nơi, nhất là các dịp lễ tết, sinh nhật và các cơ hội khác, sử dụng danh nghĩa tình cảm cá nhân hoặc danh nghĩa tổ chức, cơ quan, đơn vị, cá nhân khác để tặng quà, tiền, bất động sản, sắp xếp các hoạt động vui chơi, giải trí cho cán bộ lãnh đạo, người có thẩm quyền hoặc người có liên quan nhằm mục đích được sự ủng hộ, tín nhiệm, được vị trí, chức vụ, quyền lợi.
  3. Lợi dụng các mối quan hệ thân quen hoặc sử dụng lợi thế, vị trí công tác, uy tín của người khác để tác động, tranh thủ, gây sức ép với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc giới thiệu, bổ nhiệm mình hoặc người khác, “cánh hẩu” vào vị trí, chức vụ theo ý đồ cá nhân hoặc một nhóm người.
  4. Lợi dụng việc nắm được thông tin nội bộ hoặc thông tin bất lợi của tổ chức, cá nhân để đặt điều kiện, gây sức ép đối với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc giới thiệu, đề cử, bổ nhiệm mình.
  5. Dùng lý lịch, xuất thân gia đình, thành tích công tác của bản thân để mặc cả, cài đặt điều kiện, đòi hỏi vô lý đối với tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trách nhiệm nhằm có được vị trí, chức vụ, quyền lợi.
  6. Sử dụng các hành vi tiêu cực khác nhằm có được vị trí, chức vụ, quyền lợi.

Điều 11. Hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền

  1. Biết nhân sự có hành vi chạy chức, chạy quyền nhưng che giấu, thỏa hiệp, không xử lý theo thẩm quyền hoặc không báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.
  2. Không xử lý theo thẩm quyền quy định hoặc không báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý khi nhận được đơn, thư phản ánh, tố cáo nhân sự có hành vi chạy chức, chạy quyền.
  3. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc dùng uy tín, ảnh hưởng của bản thân và gia đình gợi ý, tác động, gây áp lực để người khác quyết định hoặc tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết, bỏ phiếu giới thiệu nhân sự theo ý mình.
  4. Xác nhận, chứng thực, nhận xét, đánh giá không đúng sự thật hoặc làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ nhân sự, kết quả bầu cử, lấy phiếu giới thiệu, phiếu tín nhiệm, thi tuyển nhằm có lợi cho nhân sự hoặc để đạt mục đích cá nhân.
  5. Trì hoãn, không thực hiện khi thấy bất lợi hoặc chọn thời điểm có lợi đối với nhân sự theo ý mình để thực hiện quy trình công tác cán bộ.
  6. Trực tiếp hoặc gián tiếp nhận hối lộ nhằm giúp cho người khác có được vị trí, chức vụ, quyền lợi không chính đáng.
  7. Trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ, môi giới cho nhân sự thực hiện các hành vi chạy chức, chạy quyền nêu tại Điều 10 Quy định này.
  8. Các hành vi khác nhằm bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền.

Điều 12. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong chống chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền

  1. Cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
  2. a) Phát hiện, tiếp nhận thông tin liên quan hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.
  3. b) Cung cấp thông tin và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong quá trình kiểm tra, xử lý hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền ở cơ quan, đơn vị mình.
  4. c) Bảo vệ và khen thưởng kịp thời những cá nhân phát hiện, phản ánh, tố cáo đúng các hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền; đồng thời, xử lý nghiêm những người tố cáo sai sự thật làm ảnh hưởng uy tín người khác.
  5. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các cơ quan dân cử thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay chạy chức, chạy quyền thì kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kiểm tra và xử lý, đồng thời giám sát việc thực hiện kiến nghị theo quy định.
  6. Cán bộ, đảng viên có trách nhiệm phát hiện và lắng nghe ý kiến của nhân dân để phản ánh, tố cáo, cung cấp thông tin cho các cơ quan có thẩm quyền về hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền.

Điều 13. Xử lý hành vi chạy chức, chạy quyền và bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền

  1. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có hành vi chạy chức, chạy quyền hoặc bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền thì bị xử lý kỷ luật theo quy định hiện hành. Ngoài ra, nếu là cán bộ đang công tác tùy theo hình thức bị kỷ luật còn bị áp dụng các biện pháp xử lý như sau:
  2. a) Bị khiển trách thì đưa ra khỏi quy hoạch cán bộ (nếu đang có trong quy hoạch). Sau thời hạn ít nhất 18 tháng kể từ ngày đưa ra khỏi quy hoạch mới được xem xét quy hoạch cán bộ. Không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, thanh tra.
  3. b) Bị cảnh cáo thì xem xét cho thôi tham gia cấp ủy, thôi giữ chức vụ đang đảm nhiệm. Đưa ra khỏi quy hoạch cán bộ (nếu đang có trong quy hoạch). Sau thời hạn ít nhất 30 tháng kể từ ngày quyết định cho thôi cấp ủy, chức vụ mới được xem xét quy hoạch cán bộ. Không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, thanh tra.
  4. c) Bị cách chức thì đưa ra khỏi quy hoạch cán bộ (nếu đang có trong quy hoạch). Sau thời hạn ít nhất 60 tháng kể từ ngày đưa ra khỏi quy hoạch mới được xem xét quy hoạch cán bộ. Không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, thanh tra.
  5. d) Bị khai trừ ra khỏi Đảng thì xem xét buộc thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động.
  6. Đối với các hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền liên quan đến việc đưa, nhận hối lộ hoặc các hành vi vi phạm khác đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chuyển hồ sơ sang cơ quan chức năng để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật; nghiêm cấm giữ lại để xử lý hành chính.

IV- ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 14. Tổ chức thực hiện

  1. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo của địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức quán triệt và cụ thể hoá theo thẩm quyền để thực hiện nghiêm Quy định này. Thường xuyên kiểm tra, giám sát và hằng năm báo cáo cấp trên trực tiếp kết quả thực hiện.
  2. Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo rà soát, bổ sung, sửa đổi và ban hành các văn bản pháp luật có liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Quy định này.
  3. Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan tham mưu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới khung xử lý hành vi vi phạm nêu trong Quy định này.

Ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định; xử lý kỷ luật theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật những tập thể, cá nhân vi phạm.

  1. Ban Dân vận Trung ương, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan dân cử trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xây dựng kế hoạch hướng dẫn thực hiện việc giám sát công tác cán bộ và việc thực hiện Quy định này; đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý các trường hợp vi phạm được phát hiện qua giám sát và phản ánh của nhân dân.
  2. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo nghiên cứu, phổ biến, quán triệt và tuyên truyền việc thực hiện Quy định.
  3. Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định; hằng năm báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Điều 15. Hiệu lực thi hành

Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký, phổ biến đến chi bộ.

Trong quá trình thực hiện Quy định, nếu phát hiện có vướng mắc và cần bổ sung, sửa đổi thì báo cáo Bộ Chính trị (qua Ban Tổ chức Trung ương) xem xét, quyết định./.

T/M BỘ CHÍNH TRỊ

TỔNG BÍ THƯ

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Phú Trọng

 

 

 

THỂ LỆ VÀ GỢI Ý ĐÁP ÁN CUỘC THI “TÌM HIỂU 75 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ 15 NĂM NGÀY HỘI TOÀN DÂN BẢO VỆ AN NINH TỔ QUỐC”

19 Tháng Sáu, 2020 Hoạt động của Đoàn TN, Hội PN, Tin mới, Tin tức hoạt động công an huyện

A- THỂ LỆ CUỘC THI

  1. Đối tượng

Cán bộ, chiến sỹ, đoàn viên, thanh niên, thiếu nhi và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn huyện Đại Từ.

  1. Nội dung

Cuộc thi tìm hiểu 75 năm Ngày truyền thống CAND Việt Nam và 15 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ ANTQ  được tổ chức bằng hình thức thi viết với các nội dung trọng tâm, gồm:

– Tìm hiểu về lịch sử xây dựng, chiến đấu, cống hiến và trưởng thành của lực lượng CAND Việt Nam; truyền thống quý báu của lực lượng CAND trong suốt 75 năm qua, những thành tích, chiến công trên mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia, đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, vì bình yên cuộc sống, vì hạnh phúc của Nhân dân”.

– Tìm hiểu về ý nghĩa Ngày hội toàn dân bảo vệ ANTQ; vai trò của quần chúng Nhân dân trong xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, bảo vệ an ninh trật tự…

  1. Yêu cầu về tác phẩm dự thi

– Bài thi phải là tác phẩm dự thi mới, không có tranh chấp bản quyền, chưa tham dự cuộc thi nào tương tự trước đây.

– Bài thi sử dụng tiếng Việt, viết tay hoặc đánh máy rõ ràng. Căn cứ vào tình hình thực tế, bài thi có thể trình bày trên các chất liệu khác nhau, khổ giấy đa dạng tùy theo ý tưởng của thí sinh hoặc nhóm thí sinh. Bài ghi rõ ở trang đầu các thông tin cá nhân: Họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, nghề nghiệp, số điện thoại, thông tin liên hệ và ngoài bìa ghi rõ: Bài Dự thi tìm hiểu “75 năm Ngày truyền thống CAND Việt Nam và 15 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ ANTQ”.

– Bài dự thi phải ngắn gọn, súc tích theo nội dung, yêu cầu của câu hỏi. Đối với câu hỏi số 5 trả lời không quá 2000 từ, khuyến khích những bài dự thi chú trọng đầu tư sâu sắc về nội dung, không quá cầu kỳ về hình thức thể hiện.

– Nhóm (không quá 05 thành viên) hoặc cá nhân có thể gửi dự thi một hoặc nhiều bài dự thi với nhiều hình thức khác nhau trong cùng thời điểm. Người đăng ký dự thi phải là cá nhân hoặc đại diện nhóm.

– Công an huyện Đại Từ sẽ cung cấp những thông tin cần thiết để làm tư liệu cho người tham gia dự thi nghiên cứu, tham khảo. Những thông tin này được đăng tải trên Trang Thông tin điện tử của Công an huyện Đại Từ (tại địa chỉ: congandaitu.vn).

– Bài dự thi sau khi nộp dự thi sẽ không được trả lại và được sử dụng trong công tác tuyên truyền.

  1. Thời gian, nơi nhận bài dự thi

– Thời gian nộp bài dự thi: Trước ngày 01/7/2020.

– Nơi nhận bài dự thi: Đội Tổng hợp (đ/c Trần Trang).

  1. Giải thưởng cuộc thi

5.1. Cấp Trung ương

– Giải phong trào dành cho các tập thể tỉnh, thành đoàn trực thuộc, Công an các đơn vị, địa phương triển khai hiệu quả cuộc thi tại cấp cơ sở và có bài dự thi cấp Trung ương có chất lượng: Gồm Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Công an kèm theo tiền thưởng.

+ Giải nhất, trị giá: 10.000.000đ

+ Giải nhì, trị giá mỗi giải: 7.000.000đ

+ Giải ba, trị giá mỗi giải: 5.000.00đ

– Giải dành cho các bài dự thi viết: Gồm Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Công an kèm theo tiền thưởng:

+ Giải nhất, trị giá mỗi giải: 15.000.000đ

+ Giải nhì, trị giá mỗi giải: 10.000.000đ

+ Giải ba, trị giá mỗi giải: 7.000.00đ

+ Giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 3.000.000đ

5.2. Công an tỉnh

– Dành cho tập thể Công an các đơn vị, địa phương; tập thể các huyện, thị, thành Đoàn, Đoàn trực thuộc triển khai có hiệu quả Cuộc thi, gồm: Giấy chứng nhận của Ban Tổ chức Cuộc thi kèm theo tiền thưởng:

+ 01 Giải nhất, trị giá: 2.000.000đ

+ 02 Giải nhì, trị giá mỗi giải: 1.000.000đ

+ 02 Giải ba, trị giá mỗi giải: 500.00đ

+ 10 Giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 300.000đ

– Dành cho cá nhân hoặc nhóm tác giả có bài dự thi đạt chất lượng cao, gồm: Giấy Chứng nhận của Ban Tổ chức Cuộc thi kèm theo tiền thưởng:

+ 01 Giải nhất, trị giá: 2.000.000đ

+ 02 Giải nhì, trị giá mỗi giải: 1.000.000đ

+ 02 Giải ba, trị giá mỗi giải: 500.00đ

+ 10 Giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 300.000đ

5.3. Lãnh đạo Công an huyện Đại Từ tổ chức biểu dương đối với cá nhân hoặc nhóm tác giả có bài dự thi đạt có đầu sự đầu tư công phu, chất lượng cao.

B – CÂU HỎI VÀ GỢI Ý ĐÁP ÁN

Câu 1. Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam được xác định là ngày, tháng, năm nào? Ý nghĩa của việc xác định Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam?

Gợi ý đáp án:

Từ ngày 13/8 đến ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào. Hội nghị nhận định cơ hội cho nhân dân ta giành quyền độc lập đã tới, những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi, Đảng chủ trương lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương. Để thống nhất lãnh đạo Tổng khởi nghĩa, Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh phụ trách; đề ra đường lối đối nội và đối ngoại trong tình hình mới. Đêm 13/08/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc đã gửi Quân lệnh số 1 cho Đồng bào và chiến sỹ cả nước nhanh chóng vùng dậy giành quyền độc lập.

Ngày 16/8/1945 cũng tại Tân Trào, Đại hội quốc dân họp, nhiệt liệt tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng và thông qua Mười chính sách của Việt Minh và Quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay sau Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Ngày 19/8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi ở Hà Nội, lực lượng CAND Việt Nam ra đời. Ở Bắc Bộ thành lập Sở Liêm phóng, Trung Bộ lập Sở Trinh sát, Nam Bộ lập Quốc gia tự vệ cuộc. Tuy tên gọi ở 03 miền khác nhau, nhưng các tổ chức đầu tiên của Công an nhân dân đều có chung nhiệm vụ trấn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng và tài sản của Nhân dân. Ngày 19/8/1945 được xác định là Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam.

Ngày 12/12/2005, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh số 30/2005/L-CTN công bố Luật Công an nhân dân, trong đó quy định: “Ngày 19 tháng 8 hàng năm là Ngày truyền thống của Công an nhân dân và là ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” (Trước đó, ngày 13/6/2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 521/QĐ-TTg, Quy định ngày 19 tháng 8 hàng năm là Ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”).

Việc xác định ngày truyền thống lực lượng Công an nhân dân có ý nghĩa to lớn như sau:

Thứ nhất, Ngày truyền thống lực lượng Công an nhân dân mang ý nghĩa chính trị, tư tưởng sâu sắc, đó là một mốc son lịch sử đánh dấu sự ra đời, trưởng thành ngày càng vững mạnh của một trong những lực lượng vũ trang cách mạng nòng cốt, quan trọng của Đảng, Nhà nước, đảm bảo sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thứ hai, đây là sự ghi nhận xứng đáng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với những đóng góp to lớn của lực lượng công an nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, trải qua 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành lực lượng Công an nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đặc biệt đã phá tan mọi âm mưu đen tối của các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa tại nước ta.

Thứ ba, việc xác định ngày truyền thống của lực lượng Công an nhân dân có ý ngĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống cách mạng, ý chí kiên cường, vượt qua gian khổ cho cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng Công an nhân dân, để qua đó góp phần tăng cường, củng cố vững chắc niềm tin, lòng trung thành của lực lượng Công an nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Những hoạt động như vậy nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao cảnh giác, ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị và trình độ nghiệp vụ, không ngại gian khổ, vượt qua khó khăn, trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Thứ tư, hàng năm thông qua tổ chức kỷ niệm ngày truyền thống Công an nhân dân, Công an các đơn vị, địa phương đánh giá, tổng kết những thành tựu đã đạt được và chỉ ra những hạn chế, thiếu sót trong công cuộc bảo vệ an ninh tổ quốc và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, rút kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.

Câu 2: Hãy nêu những chiến công tiêu biểu ở mỗi thời kỳ cách mạng của lực lượng Công an nhân dân trong 75 năm qua. Những danh hiệu, phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước dành tặng cho lực lượng Công an nhân dân?

Gợi ý đáp án:

  1. Những chiến công tiêu biểu ở mỗi thời kỳ cách mạng của lực lượng Công an nhân dân

1.1. Công an nhân dân Việt Nam ra đời, đấu tranh bảo vệ chính quyền Cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954)

Thời kì 1945-1946, lực lượng Công an nhân dân nắm vững nguyên tắc, sách lược của Đảng, đã mưu trí và khôn khéo đấu tranh chống bọn phản cách mạng, kịp thời ngăn chặn và trấn áp nhiều vụ ám sát chính trị, tiến công, bóc gỡ nhiều tổ chức, cơ sở phản động tại các địa phương trên cả nước. Đặc biệt, ngày 12/7/1946, Nha Công an Trung ương đã chỉ đạo trinh sát và công an xung phong bí mật, bất ngờ đột nhập vào trụ sở 132 Đuyvinhô (nay là phố Bùi Thị Xuân) bắt bọn phản động, thu được nhiều tài liệu, chứng cứ, kịp thời khám phá thành công vụ án ở nhà số 7, phố Ôn Như Hầu ở Hà Nội (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), vây quét 40 trụ sở của Quốc dân đảng ở Hà Nội, bắt gần 100 tên phản động, trong đó có những tên đầu xỏ như Phan Kích Nam, Nghiêm Kế Tổ, đập tan âm mưu và hoạt động của thực dân Pháp câu kết với bọn phản động tay sai địch làm đảo chính hòng lật đổ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng Công an luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, mưu trí, dũng cảm chiến đấu, lập nhiều chiến công thầm lặng nhưng vô cùng oanh liệt, đấu tranh làm thất bại mọi hoạt động gián điệp, do thám của thực dân Pháp xâm lược; đập tan âm mưu hoạt động đảo chính, lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân của các thế lực tay sai phản động; bảo vệ tuyệt đối an toàn khu căn cứ địa cách mạng và các cơ quan đầu não của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân; đấu tranh bài trừ lưu manh, trộm cướp, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài sản và cuộc sống của nhân dân. Chiến công diệt tên Trương Đình Chi – Chủ tịch Hội đồng an dân Bắc Việt (10/10/1947); diệt đối tượng Bazin, Phó Giám đốc Sở mật thám liên bang Đông Dương (28/4/1950); chiến công đánh đắm Thông báo hạm A-mi-ô-đanh-vin (Amyot d’Invill) diệt gần 200 sỹ quan và binh lính Pháp ở vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hoá (7/1950); gương chiến đấu hy sinh của đồng chí Bùi Thị Cúc, chiến sỹ Công an tỉnh Hưng Yên (5/1950); gương chiến đấu hy sinh của đồng chí Nguyễn Thị Lợi (tổ điệp báo A13); gương chiến đấu hy sinh của đồng chí Võ Thị Sáu – đội viên Công an xung phong Quận Đất Đỏ, Bà Rịa (01/1952); lực lượng CAND bảo vệ các cứ điểm quân sự lớn, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ngồi lại với ta ở bàn Hội nghị ký hiệp định Giơnevơ (7/1954), đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang trang mới… Đó là những bằng chứng đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam và sự thất bại thảm hại của các cơ quan tình báo gián điệp Pháp cùng bọn phản động tay sai.

1.2. Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1954-1975)

Trong giai đoạn này, lực lượng Công an nhân dân ở miền Bắc đã triển khai các mặt công tác đảm bảo an ninh trật tự cho cách mạng; chống địch cưỡng ép di cư, bảo vệ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật do địch để lại; bóc gỡ mạng lưới gián điệp Mỹ – Pháp cài lại; tiêu diệt và làm tan rã hàng nghìn tên phỉ, kịp thời dập tắt các vụ bạo loạn ở miền núi; bắt gọn hàng trăm toán, hàng ngàn tên gián điệp biệt kích của Mỹ ngụy tung ra; trấn áp kịp thời các vụ nhen nhóm tổ chức phản động, đập tan cái gọi là “chống cộng sản trong lòng cộng sản” của địch.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Công an nhân dân đã sát cánh cùng các lực lượng khác chiến đấu đánh trả máy bay địch, bảo vệ tuyệt đối an toàn các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, các đoàn khách quốc tế, bảo vệ tính mạng tài sản của Nhân dân, của các cơ quan, xí nghiệp; bảo vệ kho tàng quân sự; đấu tranh chống tình báo gián điệp hoạt động theo phương thức ẩn nấp P86, T72; xây dựng, hướng dẫn, phát động phong trào quần chúng sâu rộng bảo vệ ANTQ, cùng các lực lượng vũ trang khác bảo vệ vững chắc vùng giới tuyến, bờ biển, hải đảo; bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, giữ gìn trật tự xã hội trong suốt thời lỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vv… Tiêu biểu như các chiến công: giải quyết vụ phỉ gây bạo loạn ở Ba Làng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa; trấn áp đối tượng phản động gây bạo loạn ở Quỳnh Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An (1955); diệt tên Trần Văn Văn ngày 07/12/1966 của An ninh T4; chuyên án BK63 (1961); tiễu phỉ ở Đồng Văn; cứu kho xăng Đức Giang; dập tắt các vụ bạo loạn ở Bùi Chu (Nam Định), Phát Diệm (Ninh Bình)…

Ở miền Nam, lực lượng An ninh nhân dân cùng các lực lượng khác liên tục tiến công và nổi dậy diệt ác trừ gian, đập tan các chương trình, kế hoạch tình báo gián điệp, cơ sở đặc biệt và hoạt động chống phá của các loại tay sai phản động do tình báo Mỹ xây dựng và chỉ đạo; phát hiện, bóc gỡ nhiều vụ nội gián của địch góp phần bảo vệ nội bộ, bảo vệ Đảng, bảo vệ phong trào cách mạng như việc bắt Trịnh Kỳ Thiệu ngày 16-29/7/1963; diệt Nguyễn Xuân Chữ – Bộ trưởng chiến tranh tâm lý chính quyền Việt Nam Cộng hòa…, bảo vệ ANTT vùng giải phóng, bảo vệ vững chắc căn cứ kháng chiến và cơ quan quan trọng, các đồng chí lãnh đạo kháng chiến, bảo vệ các chiến dịch quân sự mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, vv…

1.3. Lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

* Giai đoạn 1975-1986

Khi đất nước mới giành được độc lập, thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng CAND đã tích cực tham gia xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng ở vùng mới giải phóng, tổ chức quản lý, cải tạo số ngụy quân, ngụy quyền, nhân viên của chế độ cũ, truy quét tàn quân địch, đấu tranh làm tan rã các tổ chức FULRO, bắt hàng ngàn tên, bóc gỡ hàng trăm khung chính quyền ngầm của địch; chủ động đấu tranh bóc gỡ toàn bộ mạng lưới gián điệp, tình báo của đế quốc Mỹ và tay sai cài lại theo kế hoạch hậu chiến; bắt gọn hàng trăm toán gián điệp, biệt kích của các thế lực thù địch từ bên ngoài xâm nhập vào Việt Nam; đập tan âm mưu và hoạt động của bọn phản động lưu vong xâm nhập móc nối với bọn phản động trong nước âm mưu gây bạo loạn, lật đổ chính quyền. Trong 2 năm (1976 – 1977), lực lượng CAND đã đấu tranh, khám phá tổ chức phản động “Mặt trận Quốc gia giải phóng Việt Nam” do Hoàng Cơ Minh đứng đầu, bắt 1.395 tên, trong đó có nhiều thủ lĩnh tự phong, gồm “Quốc trưởng”, “Thủ tướng”, 57 tên chỉ huy cấp quân khu, sư đoàn, 519 tên chỉ huy cấp trung đoàn, tiểu đoàn, thu giữ 147 tấn vũ khí, 16 bộ điện đài, 2 tàu xâm nhập và khám phá 7 tổ chức phản động trong nước; điều tra vụ giết nữ nghệ sỹ Thanh Nga. Trong 4 năm (1981 – 1984), lực lượng Công an đã đấu tranh với tổ chức phản động do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu, bắt 146 tên, thu 143 tấn vũ khí, thu 300 triệu đồng tiền Việt Nam in giả, 16 điện đài, 2 tàu xâm nhập.Từ năm 1997 đến năm 2000, lực lượng Công an đập tan âm mưu khủng bố của tổ chức phản động lưu vong tại Mỹ, do Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu, bắt và truy tố 37 tên phản động, thu 10.141 tờ truyền đơn, 47 lá cờ “ba sọc” và nhiều vũ khí, phương tiện hoạt động của chúng.

* Giai đoạn 1986 – nay

Trong sự nghiệp đổi mới, lực lượng CAND đã tham mưu giúp Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai, thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng về công tác Công an trong tình hình mới; tham mưu đề xuất và trực tiếp giải quyết nhiều vụ, việc phức tạp liên quan đến vấn đề tôn giáo, dân tộc, an ninh kinh tế, an ninh nông thôn, an ninh văn hóa – tư tưởng; phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng nghiệp vụ, bảo vệ an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị, văn hoá, xã hội trọng đại của đất nước; chủ động phòng ngừa và liên tục mở nhiều đợt tấn công, truy quét tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức. Tiêu biểu, năm 1996, lực lượng Công an triệt phá băng, nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, do Dương Văn Khánh cầm đầu, truy tố 48 bị can. Hai năm 2001 – 2002, lực lượng Công an triệt phá tổ chức tội phạm đặc biệt nguy hiểm hoạt động theo kiểu “xã hội đen” do Trương Văn Cam cầm đầu, bắt giữ, xử lý hàng trăm tên tội phạm nguy hiểm. Điều tra, khám phá nhiều vụ án về ma túy lớn, điển hình như đường dây buôn lậu ma túy do Xiêng Phênh – Vũ Xuân Trường cầm đầu; đường dây buôn lậu ma túy do Nguyễn Văn Hải cầm đầu; triệt phá ổ nhóm ma túy tại Lóng Luông (Vân Hồ, Sơn La) do trùm ma túy Nguyễn Thanh Tuân và Nguyễn Văn Thuận cầm đầu (năm 2018). Đấu tranh chống Fulro trên địa bàn Tây Nguyên; giải quyết vụ bạo loạn ở Mường Nhé; khám phá tổ chức phản động “Đảng Việt Nam dân chủ hành động” do Nguyễn Sỹ Bình cầm đầu (1997). Ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn xã hội, từng bước thiết lập lại trật tự an toàn giao thông; làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy; đẩy mạnh công tác đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, khám phá nhiều vụ án kinh tế lớn, điển hình như: vụ tham nhũng tại Trạm kiểm soát Đồng Bành, Lạng Sơn; vụ tham ô tài sản tại Công ty TAMEXCO; vụ Epco – Minh Phụng; vụ lừa đảo, cố ý làm trái đặc biệt nghiêm trọng, do Lã Thị Kim Oanh cầm đầu… góp phần tạo môi trường chính trị, xã hội ổn định, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và quá trình hội nhập quốc tế.

Lực lượng Công an nhân dân đã chủ động phối hợp tham mưu với Đảng, Nhà nước gắn kết chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp an ninh, quốc phòng với kinh tế, đối ngoại; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân; chủ động tích cực mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với lực lượng An ninh, Cảnh sát nội vụ các nước trên thế giới nhằm trao đổi tin tức, chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế trong đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, đồng thời tham gia tích cực trong việc làm sâu sắc thêm các mối quan hệ hữu nghị hợp tác quốc tế của đất nước, góp phần nâng cao vai trò, vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế.

  1. Những danh hiệu, phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước dành tặng cho lực lượng Công an nhân dân

75 năm song hành cùng đất nước, ở mỗi giai đoạn cách mạng, lực lượng Công an nhân dân luôn một lòng một dạ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; không quản ngại khó khăn gian khổ, luôn nêu cao tinh thần tận tụy, sẵn sàng xả thân vì nước, hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân. Đã xuất hiện hàng ngàn, hàng vạn tấm gương tập thể, cá nhân tiêu biểu trong lực lượng được Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành khen thưởng. Mỗi thành tích, chiến công, mỗi gương người tốt, việc tốt, mỗi sự cố gắng, tận tụy của cán bộ, chiến sỹ Công an đã góp phần làm cho hòa bình, ổn định của đất nước được giữ vững, kỷ cương, phép nước được nghiêm minh, tài sản, tính mạng và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân được bảo vệ; góp phần vào sự trưởng thành, vững mạnh của của Công an nhân dân và viết tiếp truyền thống vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam.

Những phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước tặng các tập thể, cá nhân lực lượng Công an nhân dân (tính đến tháng 12/2019)

2.1. Huân chương Sao Vàng

– 04 Huân chương Sao Vàng, tặng lực lượng Công an nhân dân (năm 1980, 1985, 2000 và 2015).

– 09 Huân chương Sao Vàng, tặng: lực lượng An ninh nhân dân (năm 1995); lực lượng Tình báo (năm 1995); lực lượng Cảnh sát nhân dân (năm 2003); Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (năm 2003); Tổng cục An ninh (năm 2006); Tổng cục Tình báo (năm 2006); Lực lượng Bảo vệ Chính trị I (năm 2008); Công an Thành phố Hà Nội (năm 2010); Học viện An ninh nhân dân (năm 2011).

– 03 Huân chương Sao Vàng tặng các đồng chí cố Bộ trưởng (đồng chí Phạm Hùng, đồng chí Trần Quốc Hoàn và đồng chí Mai Chí Thọ).

2.2. Huân chương Hồ Chí Minh

– 01 Huân chương Hồ Chí Minh, tặng lực lượng Công an nhân dân (năm 1975).

– 89 Huân chương Hồ Chí Minh tặng Công an các đơn vị, địa phương.

– 10 Huân chương Hồ Chí Minh tặng cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân.

2.3. Các danh hiệu, khen thưởng khác

– 714 lượt tập thể, 408 cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng VTND.

– 01 tập thể và 01 cán bộ CAND được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới

– Hàng ngàn tập thể, cán bộ, chiến sĩ CAND được tặng Huân chương Độc lập, Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, Huân chương Lao động. Hàng vạn tập thể, cán bộ, chiến sĩ CAND được tặng Kỷ niệm chương Bảo vệ an ninh Tổ quốc, Huy chương các loại và Bằng khen của Chính phủ.

Câu 3. Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được Thủ tướng Chính phủ quyết định vào ngày, tháng, năm nào? Ý nghĩa của Ngày hội toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc? Bạn có kiến nghị, đề xuất gì để phong trào “Toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc” được triển khai ngày càng sâu rộng, hiệu quả?

Gợi ý đáp án

  1. Ngày 19/8 hàng năm được xác định là Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc

Ra đời trong những ngày sôi sục của Cách mạng Tháng Tám, tuy còn non trẻ song lực lượng Công an nhân dân đã quán triệt và vận dụng sáng tạo các quan điểm, đường lối quần chúng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, bám sát nhiệm vụ chính trị của đất nước, dựa vào Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc để tuyên truyền vận động Nhân dân hăng hái tham gia vào các tổ chức như: “Việt Dũng thanh niên đoàn”; “Việt nữ đoàn”; “Cảnh sát danh dự không lương”… sát cánh cùng lực lượng Công an làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, đấu tranh quyết liệt với các thế lực thù địch, các loại phản động và tội phạm, bảo vệ an toàn Lễ tuyên ngôn độc lập (02/9/1945), bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ trước sự đe dọa của thù trong, giặc ngoài trong tình thế đất nước “Ngàn cân treo sợi tóc”.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, lực lượng CAND đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng Quân đội nhân dân, đoàn, hội kháng chiến, tham mưu cho Đảng, Chính phủ chỉ đạo, tổ chức vận động Nhân dân thực hiện cuộc vận động với khẩu hiệu “3 không”, nội dung phù hợp với đặc điểm từng vùng, miền chiến lược: ở căn cứ địa Việt Bắc và vùng tự do là “Không nghe, không biết, không thấy”; ở vùng địch tạm chiếm là “Không làm việc cho địch, không bán lương thực cho địch, không chỉ đường cho địch”, ở Nam Bộ phát động Nhân dân tham gia phong trào “Ngũ gia liên bảo” để bảo vệ an ninh, trật tự thôn, xóm. Các cuộc vận động trên đã nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho Nhân dân, bưng bít tai mắt quân thù và nhanh chóng phát triển ra toàn quốc thành phong trào “Phòng gian bảo mật” với các nội dung cụ thể: Bảo vệ bí mật, tài sản của Đảng, Nhà nước, bảo vệ nội bộ, bảo vệ trị an xã hội. Nhân dân đã giúp đỡ lực lượng Công an đấu tranh ngăn chặn kịp thời các hoạt động phá hoại của địch và âm mưu “Xứ Nùng”, “Xứ Thái”, “Xứ Mường” tự trị… ở miền núi phía Bắc và lập “Nước Tây kỳ tự trị”, “Nước Nam kỳ tự trị” ở phía Nam… đỉnh cao là góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (ngày 07/5/1954), buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc hoàn toàn giải phóng bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Lực lượng Công an đã tham mưu phục vụ Đảng, Chính phủ, Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo tổ chức vận động Nhân dân tích cực tham gia bảo vệ an ninh, trật tự, xây dựng lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở. Ở miền Bắc, Trung ương phát động phong trào “Bảo vệ trị an” ở ngoài xã hội và mở cuộc vận động “Bảo mật phòng gian” trong các cơ quan, xí nghiệp. Ở miền Nam, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ đạo đẩy mạnh phong trào “Bảo mật phòng gian” ở cả 3 vùng chiến lược và thành lập “Hội đồng bảo vệ an ninh xã, ấp”. Phong trào “Bảo vệ trị an”, “Bảo mật phòng gian” phát triển mạnh mẽ, gắn kết với phong trào thi đua lao động sản xuất, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng ở miền Nam.

Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975), lực lượng Công an đã sớm tham mưu với Đảng, Nhà nước thống nhất các phong trào, cuộc vận động Nhân dân tham gia bảo vệ an ninh, trật tự trong toàn quốc thành phong trào “Quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Đồng thời, Công an các cấp đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội tham mưu phục vụ cấp ủy Đảng, Chính quyền tổ chức, vận động mọi tầng lớp Nhân dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Phong trào đã có bước phát triển khá sâu rộng, với nhiều nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, cụ thể của từng vùng, từng khu vực, từng lĩnh vực, từng địa bàn cụ thể. Nhiều tấm gương tiêu biểu, điển hình tiên tiến được nhân rộng trong toàn quốc. Phong trào đã phát huy năng lực sáng tạo của cơ sở, khơi dậy sức mạnh, tiềm lực to lớn của toàn dân trong phòng ngừa, tấn công, trấn áp tội phạm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Để ghi nhận những đóng góp to lớn của Nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, ghi nhớ sự hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sỹ, thương binh và tôn vinh các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự; tiếp tục động viên đông đảo các tầng lớp Nhân dân, đẩy mạnh phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc trong giai đoạn mới, ngày 13/6/2005 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 521/QĐ-TTg về việc lấy ngày 19/8 hàng năm là “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Ngay sau đó, lực lượng CAND đã tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức quán triệt và thực hiện Quyết định trên, với nội dung cơ bản là: Tuyên truyền cho cán bộ, Nhân dân hiểu rõ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” và vai trò to lớn của Nhân dân trong phong trào đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng các khu dân cư, cơ quan, trường học, đơn vị an toàn…

  1. Ý nghĩa

– Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm của các tầng lớp Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.

– Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc là dịp để động viên, khen thưởng và tôn vinh các tập thể, cá nhân điển hình có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở địa phương, cơ sở.

– Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc góp phần quan trọng, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội. Là ngày hội biểu dương sức mạnh to lớn của quần chúng Nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc; đồng thời là dịp tổng kết, đánh giá phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; kiểm điểm và nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc chỉ đạo xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững mạnh.

  1. Kiến nghị

Một là, các ngành, các cấp trong cả nước cần tiếp tục triển khai sâu rộng nội dung, ý nghĩa của Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc đến các tầng lớp Nhân dân và các cơ quan, doanh nghiệp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Hai là, đổi mới nội dung tổ chức các hoạt động của Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, gắn chặt với các phong trào hoạt động khác để huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị vào công tác phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội

Ba là, công tác kiểm tra giám sát và khen thưởng, kỷ luật phải luôn được tiến hành song song nhằm phát hiện ra những thiếu sót, sai lầm để kịp thời sửa chữa, khắc phục.

Bốn là, các cấp, các ngành thường xuyên quan tâm làm tốt công tác tổng kết kinh nghiệm, nhân điển hình tiên tiến để kịp thời động viên khen thưởng cổ vũ phong trào.

Năm là, lực lượng Công an nhân dân tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt, luôn xác định xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong các hoạt động nghiệp vụ của mình.

Câu 4: Đề xuất, kiến nghị của bạn góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Nhân dân giao phó trong tình hình mới? Trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự của đất nước hiện nay?

Gợi ý đáp án:

  1. Đề xuất, kiến nghị góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao trong tình hình mới

Trong thời gian tới, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội đặt ra cho lực lượng Công an nhân dân rất nặng nề. Các thế lực thù địch, phản động sẽ gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam, triệt để khai thác những khó khăn của đất nước, các vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự để thực hiện Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nguy cơ xảy ra khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng gia tăng. Tình hình tranh chấp chủ quyền biên giới, lãnh thổ, nhất là tình hình Biển Đông có những diễn biến phức tạp, khó lường. Tình trạng vi phạm pháp luật, tội phạm có xu hướng gia tăng, xuất hiện nhiều loại tội phạm mới, đặc biệt là tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm xử dụng công nghệ cao. Trật tự an toàn xã hội đứng trước nhiều tác động theo chiều hướng phức tạp…

Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự rất nặng nề, khó khăn mà Đảng và Nhân dân giao phó, đòi hỏi lực lượng CAND cần phải không ngừng phát huy hơn nữa truyền thống vẻ vang; tiếp tục đổi mới toàn diện và nâng cao chất lượng các mặt công tác Công an; tăng cường xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng trong sạch, vững mạnh; thực hiện quyết liệt, đồng bộ kiện toàn tổ chức bộ máy, sắp xếp đội ngũ cán bộ, đảm bảo yêu cầu “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở” theo Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 06/8/2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy Bộ Công an triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; tiếp tục đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phong trào “CAND học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy”, Cuộc vận động “Xây dựng phong cách người Công an bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” và các phong trào thi đua yêu nước khác. Gắn bó với nhân dân, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với Quân đội nhân dân, với các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị – xã hội và đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, tạo thành sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, giữ vững ổn định chính trị, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

  1. Trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự của đất nước hiện nay

– Công cuộc đổi mới của đất nước ta đã trải qua hơn 30 năm và giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đứng trước tiền đồ hết sức vẻ vang; những thời cơ, thuận lợi rất cơ bản. Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đất nước ta cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức; những nhân tố tác động đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội đang diễn biến rất phức tạp. Các thế lực thù địch sẽ tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam, triệt để khai thác những khó khăn, các vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có xu hướng ngày càng bộc lộ rõ nét và nghiêm trọng hơn. Nguy cơ xảy ra khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng gia tăng. Vi phạm pháp luật, tội phạm có xu hướng gia tăng và xuất hiện nhiều loại tội phạm mới, đặc biệt là tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao. Trật tự, an toàn xã hội đứng trước nhiều tác động theo chiều hướng phức tạp. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự đang đặt ra hết sức nặng nề, đòi hỏi phải tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân để bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, an ninh và an toàn xã hội để xây dựng, phát triển đất nước.

– Trước bối cảnh như vậy, mỗi cá nhân đều phải nhận thức rõ ý thức, trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự của đất nước hiện nay. Cụ thể:

+ Mỗi cá nhân phải nhận thức rõ vị trí, vai trò, mục tiêu, qua đó thấy được tầm quan trọng của sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự đất nước;

+ Đề cao tinh thần cảnh giác đồng thời chủ động phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm, giáo dục, giúp đỡ, cảm hóa người vi phạm pháp luật, tái hòa nhập cộng đồng; tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội; tham gia tích cực và hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc;

+ Tuyên truyền, hướng dẫn những người xung quanh đề cao tinh thần cảnh giác, tích cực phòng chống các âm mưu và hành động chống phá của kẻ thù, góp phần không nhỏ trong việc xây dựng, củng cố thế trận lòng dân, thế trận an ninh nhân dân;

+ Quán triệt, thực hiện tốt các quan điểm, giải pháp, biện pháp của Đảng, Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng chống diễn biến hòa bình và tự diễn biến, tự chuyển biến trong nội bộ.

Câu 5: Cảm nhận (hoặc kỷ niệm sâu sắc) của bản thân về hình ảnh người chiến sỹ Công an nhân dân, về mối quan hệ giữa quần chúng Nhân dân với lực lượng Công an nhân dân?

Gợi ý đáp án:

* Cảm nhận của bản thân về người chiến sỹ CAND:

– Hình ảnh người chiến sĩ Công an nhân dân Việt Nam đã trở nên quen thuộc và gần gũi với bất kỳ một người dân nào. Công an nhân dân là những người giữ bình yên cuộc sống, người thức cho dân ngủ ngon, gác cho dân vui chơi; lấy niềm vui, hạnh phúc của Nhân dân làm niềm vui, lẽ sống của đời mình.

– Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đùm bọc giúp đỡ của nhân dân, lực lượng Công an nhân dân đã kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của ông cha. Trong các cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, người chiến sĩ Công an nhân dân đã ghi sâu vào tâm thức của Nhân dân về hình ảnh người chiến sĩ anh dũng, kiên cường sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Những cống hiến và hi sinh của lớp lớp cán bộ chiến sỹ Công an nhân dân đã đi cùng năm tháng, dựng nên hình ảnh người chiến sĩ Công an tận tuỵ, dũng cảm trong lòng quần chúng, góp phần tô thắm truyền thống vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân.

– Không chỉ vậy, trải qua quá trình rèn luyện và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Đảng, hình ảnh những người chiến sĩ Công an nhân dân trong lòng quần chúng còn là hình ảnh của một lực lượng chính quy, tinh nhuệ, có tinh thần trách nhiệm cao trong sự nghiệp chiến đấu, hy sinh vì nhân dân, vì Tổ quốc.

– Ngày nay, vẫn có một bộ phận cán bộ, chiến sỹ thiếu tu dưỡng rèn luyện đã sa sút về phẩm chất đạo đức, tư thế, tác phong thiếu nghiêm túc dẫn đến vi phạm kỷ luật đã ít nhiều làm ảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào lực lượng Công an, làm xấu đi hình ảnh người chiến sĩ Công an nhân dân. Tuy nhiên, đó chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”, đòi hỏi lực lượng Công an nhân dân cần tăng cường hơn nữa công tác giáo dục tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chiến sỹ, nhất là số cán bộ trẻ.

* Kỷ niệm sâu sắc của bản thân về người chiến sỹ Công an nhân dân:

– Đồng chí có thể chia sẻ những kỷ niệm, câu chuyện có thật, những việc làm nhân văn, tích cực, vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đoàn viên thanh niên Công an nhân dân mà bản thân đã trải qua hoặc được nghe, được biết.

– Tập thể, cá nhân được nhắc đến trong câu chuyện góp phần lan tỏa, tác động tích cực tới nhận thức của bản thân và mọi người xung quanh như thế nào?

– Khuyến khích tác giả bày tỏ quan điểm cá nhân, có sự liên hệ, kết nối với bản thân từ những kỷ niệm, câu chuyện, nhân vật được nhắc đến.

* Cảm tưởng của bản thân về mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lực lượng CAND:

– CAND Việt Nam là Công an của Nhân dân, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà phục vụ.

– Quán triệt tư tưởng của Ðảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua các thời kỳ cách mạng của đất nước, dù trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, lực lượng Công an luôn đoàn kết gắn bó mật thiết với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để rèn luyện, chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

– Xây dựng hình ảnh tốt đẹp về người chiến sĩ Công an nhân dân trong lòng Nhân dân để được nhân dân tin yêu “đi dân nhớ, ở dân thương” đã trở thành nhiệm vụ then chốt, xuyên suốt trong công tác xây dựng lực lượng trong sạch, vững mạnh. Bởi lực lượng Công an nhân dân là con em yêu quý của Nhân dân, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà hy sinh, chiến đấu. Ngược lại, Nhân dân là chỗ dựa vững chắc, là sức mạnh vô tận của công an, như lời Bác lúc sinh thời từng căn dặn: “Khi Nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”./.

 

Hưởng ứng “Ngày toàn dân phòng cháy chữa cháy 04/10/2019”

16 Tháng Chín, 2019 Tin mới

Ngày 04/10/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 53/LCT ban hành Pháp lệnh việc quy định Quản lý Nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy. Đây là văn bản quan trọng đầu tiên, là dấu mốc lịch sử đối với quan trọng đối với công tác PCCC. Bản Pháp lệnh có nêu rõ: “PCCC là để bảo vệ tài sản của nhà nước, tính mạng tài sản của nhân dân; bảo vệ sản xuất với an ninh trật tự; đồng thời cũng khẳng định công tác PCCC là nghĩa vụ và trách nhiệm của toàn dân và của toàn xã hội.

Phòng cháy chữa cháy là một trong những công tác quan trọng nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người, bảo vệ tài sản Nhà nước và của nhân dân, góp phần bảo đảm an ninh và trật tự an toàn xã hội.

Mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tham gia hưởng ứng, tuyên truyền công tác phòng cháy chữa cháy cho mọi người cùng tham gia giảm thiểu đến mức thấp nhất những thiệt hại do cháy, nổ gây ra. Cụ thể:

1. Toàn dân tích cực thực hiện tốt Luật Phòng cháy và chữa cháy.

2. Phòng cháy và chữa cháy là trách nhiệm và quyền lợi thiết thân của mỗi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.

3. Chủ động phòng cháy tốt, sẵn sàng chữa cháy kịp thời và có hiệu quả.

4. Mỗi người dân là một chiến sỹ trên mặt trận phòng chống giặc lửa.

5. Người người, nhà nhà, ngành ngành tích cực tham gia các hoạt động hưởng ứng “Ngày toàn dân Phòng cháy và chữa cháy” – 4/10.

6. Nhiệt liệt hưởng ứng “Ngày toàn dân Phòng cháy và chữa cháy” – 4/10.

7. Phòng cháy tốt, chữa cháy giỏi là thiết thực góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

8. Chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện phòng cháy và chữa cháy tại chỗ là thiết thực bảo vệ tính mạng và tài sản của chính mình.

9. Mỗi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân quyết tâm phòng cháy tốt, chữa cháy giỏi.

10. Không để xảy ra cháy, nổ là hạnh phúc của mọi nhà.

11. Thực hiện tốt Luật Phòng cháy và chữa cháy là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi công dân.

KỸ NĂNG PHÒNG NGỪA TAI NẠN RỦI RO TRONG MÙA MƯA BÃO

16 Tháng Chín, 2019 Tin mới, Tin tức hoạt động công an huyện

Trong mùa mưa bão, lũ, người dân phải đối diện với rất nhiều các sự cố rủi ro gây nguy hiểm và các tai nạn thương tích. Nếu chủ quan, không biết các kỹ năng phòng tránh thì nguy hiểm đến tính mạng và tài sản của con người.

Vì vậy, để bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản cho bản thân và gia đình, dưới đây là một số kỹ năng giúp xử trí đúng và phòng tránh tai nạn thương tích hay gặp trong mưa lũ.

1. Sét đánh mùa mưa bão

Hiện đang vào mùa mưa giông vì vậy hiện tượng sét đánh thường xuyên xảy ra rất dễ gây nguy hiểm cho con người. Người bị sét đánh có thể ngừng tim ngay lập tức. Ở những người khác có thể không thấy các dấu hiệu tổn thương bên ngoài. Một số người có thể mất ý thức trong thời gian khác nhau. Họ có vẻ lú lẫn hoặc không nhớ chuyện gì xảy ra.

* Phòng chống sét ngoài trời

Cơn giông kéo đến rất nhanh trong vòng 15 phút và di chuyển với vận tốc 40km một giờ. Nói chung khi đang ở nơi không an toàn thì cần phải để ý đến các dấu hiệu của giông như mây đen, không khí lạnh, gió.

Ngoài ra còn có phương pháp xác định vị trí của sét đó là cảm nhận cơ thể khi đang ở khu vực giông, mưa. Nếu thấy lông tay, tóc, dựng thì chúng ta đang có nguy cơ bị sét đánh, trong trường hợp này phải lập tức chụm hai chân lại, dùng tay bịt tai, cúi thấp người (nhưng không để cơ thể chạm đất ngoài hai bàn chân). Sau khi nghe tiếng sét khoảng 7-10 phút thì cơn sét đã qua có thể trở về trạng thái bình thường.

Tư thế ngồi để tránh bị sét đánh

Khi nghe thấy tiếng sấm đầu tiên bất kể là gì cũng cần phải thấy nguy hiểm đã đến. Sét có thể đánh cách xa nơi có mưa tới 15-20km. Người đang lao động hoặc đi lại ngoài trời cần tìm nơi trú an toàn.

Đặc biệt lưu ý không tránh mưa dưới các gốc cây to, nhất là những cây cao đơn độc trong vùng trống trải. Bởi  khi tia sét bắt vào cây, dòng điện mạnh có thể truyền sang bất cứ một vật nào dẫn điện hoặc truyền xuống gốc cây tỏa ra trên mặt đất gây tai nạn cho những người trú ẩn dưới gốc cây, tránh các khu vực cao hơn xung quanh, tránh xa các vật dụng kim loại như xe đạp, máy, hàng rào sắt, không được sử dụng điện thoại…Nên tìm chỗ khô ráo, nếu xung quanh có cây cao hơn thì nên tìm chỗ thấp, tìm vị trí cây thấp. Người ở vị trí càng thấp càng tốt, tay ôm cổ, phần tiếp xúc của người với mặt đất là ít nhất; nhón chân, không được nằm xuống đất. Đặc biệt, không đứng thành nhóm người gần nhau.

Để phòng sét đánh, không trú mưa dưới gốc cây to

* Phòng chống sét trong nhà

Tuy nhiên khi sắp xảy ra giông, thì biện pháp tránh sét tốt nhất là nên về nhà hay công sở. Các ngôi nhà, trụ sở làm việc… nên lắp đặt hệ thống chống sét (đơn giản nhất là cột thu lôi).

Khi ở trong nhà nên đứng xa cửa sổ, cửa ra vào, các đồ dùng điện, tránh các chỗ ẩm ướt như buồng tắm, bể nước, vòi nước, không nên dùng điện thoại trừ trường hợp rất cần thiết. Nên rút phích cắm các thiết bị điện trước lúc có giông gần xảy ra. Với các đường dây điện thoại hay dây điện vì nối với lưới bên ngoài nên rất có thể bị ảnh hưởng sét đánh lan truyền. Nên tránh xa các dây này và các vật dùng điện với khoảng cách ít nhất là 1m. Cần rút ăng ten ra khỏi ti vi khi có giông.

Nếu như bạn cảm thấy tóc bị dựng lên (như cảm giác điện khi sờ tay trước mặt ti-vi) thì điều đó có nghĩa là có thể bị sét đánh bất cứ lúc nào, lập tức cúi ngồi xuống và lấy tay che tai, không nằm xuống đất hay đặt tay lên đất.

Cách sơ cứu nạn nhân bị sét đánh:

Xử trí sét đánh  tại nhà hoặc hiện trường là cần đặt nạn nhân nằm lên chỗ khô ráo, bằng phẳng, nới rộng quần áo để người bị nạn thở được dễ dàng, nếu nạn nhân hôn mê thì cần kiểm tra xem còn thở hay không. Nếu ngừng thở, cần tiến hành hồi sinh tim phổi ngay lập tức:

  • Đặt nạn nhân nằm ngửa.
  • Tiến hành hồi sức hô hấp miệng-miệng: Lấy tay bịt mũi nạn nhân, hít một hơi thật sâu. Sau đó ngậm kín miệng của nạn nhân, thổi một hơi dài rồi buông ra để nạn nhân thở ra bình thường. Tiếp tục làm như vậy khoảng 2 lần.
  • Ép tim ngoài lồng ngực: Xác định 1/3 dưới xương ức. Đặt hai tay lên vị trí vừa xác định và ép liên tục khoảng 30 lần với tần số khoảng 100 lần/phút, ép sâu khoảng 3-5cm.
  • Luân phiên thổi ngạt-ép tim như vậy với tỷ lệ 2 lần thổi ngạt và 30 lần ép tim đến khi có nhân viên y tế đến hỗ trợ và có các trang thiết bị thiết yếu.

– Nếu phát hiện nạn nhân bị gãy xương, cần cố định xương chắc chắn trước khi di chuyển. Đặc biệt cẩn thận, không di dời nạn nhân nếu nghi ngờ bị gãy cột sống. Đối với những vị trí bỏng khô, phải để yên, không sờ mó, không bôi các loại lá, mỡ theo kinh nghiệm dân gian lên vết bỏng. Sau khi đã thực hiện sơ cứu, cần nhanh chóng đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu kịp thời.

2. Đuối nước

Trong mùa mưa bão, nước sông, suối, ao, hồ dâng cao, chảy xiết, làm thay đổi dòng chảy bình thường nên người qua lại các khu vực này rất dễ bị tai nạn. Nếu nạn nhân mới bị uống nước và hít nước vào đường thở, sẽ hoảng loạn, vùng vẫy nhiều ở trên và dưới mặt nước.

Khi được cứu vớt lên bờ: Nạn nhân có thể chưa có biểu hiện gì hoặc hốt hoảng, sợ hãi, tim đập nhanh, thở nhanh, hạ thân nhiệt.

Cách xử trí: Cấp cứu ngay dưới nước: Đỡ đầu nạn nhân nhô lên mặt nước và bơi ngửa để đưa nạn nhân vào bờ. Có thể tát mạnh vào hai má 2 – 3 cái để gây phản xạ thở lại. Ủ ấm, xoa các loại dầu nóng. Theo dõi nếu nặng lên thì chuyển đến cơ sở y tế gần nhất, khi chuyển, cần theo dõi nhịp thở và nhịp tim.

Nếu được phát hiện và cứu vớt muộn: Nạn nhân đã bị uống và hít nhiều nước vào đường thở, nên thiếu ôxy nặng. Thường dãy dụa dưới mặt nước, sủi bọt lên mặt nước. Khi được cứu vớt lên bờ có các biểu hiện hoảng loạn, vật vã, thở nhanh, nông, miệng trào bọt hồng, toàn thân lạnh, da nhợt nhạt, tím, tim đập nhanh, yếu hoặc đập chậm, mạch nảy yếu khó bắt.

Cách xử trí: Để nằm sấp nghiêng đầu, ấn đẩy mạnh hai tay vào vùng thượng vị hoặc dốc ngược nhanh nạn nhân lên, nhưng không kéo dài quá 1 phút. Lau mũi, miệng, họng. Nếu nạn nhân thở yếu thì thổi ngạt miệng – miệng. Thay quần áo ướt bằng quần áo khô hoặc bọc phủ bằng khăn khô. Sau đó ủ ấm cho nạn nhân, xoa các loại dầu nóng sau đó chuyển nhanh đến cơ sở y tế gần nhất, trên đường vận chuyển phải tiếp tục hồi sức hô hấp (nếu cần) và theo dõi nhịp tim. Tuyệt đối không chữa theo mách bảo, kinh nghiệm.

Để phòng chống đuối nước người dân cần lưu ý không đi qua các khu vực ngập nước, nước chảy xiết. Nếu phải vượt qua các khu vực ngập nước phải có phao cứu sinh, đi nhiều người (để tương trợ nhau lúc cần thiết); tại những vùng nguy hiểm phải có biển báo hoặc cử người túc trực để báo cho người dân biết các đoạn nguy hiểm.

3. Điện giật

Hệ thống điện ở một số nơi chằng chịt, mất an toàn, dễ bị đứt do gió lớn nên mưa bão dễ bị tai nạn này. Vì vậy, nếu gặp nạn nhân bị điện giật cần xử trí như sau: Cần nhanh cắt cầu dao điện. Dùng gậy gỗ khô, ván gỗ, cây nhựa… tách nạn nhân ra khỏi dòng điện. Đặt nạn nhân nằm ở nơi thoáng mát. Đối với nạn nhân bất tỉnh, không có dấu hiệu thở: Tiến hành hô hấp nhân tạo và ép tim lồng ngực tại chỗ cho đến khi tự thở được hoặc xác định nạn nhân chắc chắn đã chết thì mới dừng lại. Đối với nạn nhân còn tỉnh táo: Kiểm tra mức độ tổn thương ở các vị trí nặng hay nhẹ. Đặc biệt, kiểm tra tổn thương nguy hiểm trước như ở đốt sống cổ, bởi những tổn thương này có thể gây liệt nếu không sơ cấp cứu kịp thời, sau đó tiến hành kiểm tra các bộ phận còn lại. Động viên, an ủi để nạn nhân yên tâm và nhanh chóng đưa nạn nhân tới cơ sở y tế gần nhất.

Để phòng tai nạn điện giật: Người dân chủ động kiểm tra hệ thống điện của gia đình mình, xung quanh khu vực mình sinh sống; nếu có gì bất thường phải báo cho cơ quan điện lực biết để sửa chữa kịp thời. Khi thấy dây dẫn điện bị đứt, các thiết bị điện bị đổ hoặc thấy nguy cơ mất an toàn thì không lại gần. Lắp đặt cầu chì, cầu dao, ổ điện… ở nơi khô ráo, tiện sử dụng, cách sàn nhà 1,4m để tránh xa tầm tay trẻ em. Không cắm thẳng dây điện vào ổ điện mà phải dùng phích cắm. Không đứng nơi ẩm ướt để đóng cắt điện. Lau tay khô ráo khi chạm vào dây dẫn hoặc thiết bị điện. Khi rút phích cắm điện phải nắm vào phần vỏ nhựa của thân phích cắm, không được nắm vào dây dẫn điện. Trường hợp nhà bị ngập nước mà không cắt được điện thì phải đứng trên các nơi chưa bị ngập, gọi điện hoặc kêu cứu để mọi người báo cơ quan điện lực cắt điện. Không tự ý lội trong nhà dọn đồ đạc sẽ bị điện rò trong nước gây tai nạn chết người. Các thiết bị điện bị ngấm nước phải sấy khô mới được sử dụng.

4. Sơ cấp cứu gãy xương

Gãy xương hay gặp do nhà sập, cây đè, té ngã. Gãy xương nếu không được sơ cấp cứu  đúng sẽ làm nặng thêm cho nạn nhân. Vì vậy khi gặp một nạn nhân nghi ngờ có gãy xương, người sơ cứu nên bình tĩnh, phán đoán xem nạn nhân bị gãy xương ở chi nào, có các thương tổn kèm theo không, có gãy xương, xương hở không và bệnh nhân mê hay tỉnh. Tuyệt đối không di chuyển bệnh nhân khi chưa được cố định xương gãy. Cần cố định chi gãy theo tư thế cơ năng (chi ở tư thế nào nên cố định ở tư thế đó), không kéo, nắn hay chỉnh sửa tư thế chi; cố định đúng kỹ thuật, bất động được các khớp trên và dưới chỗ gãy một khớp); dùng nẹp đúng cỡ, có chèn gạc hoặc giẻ ở những nơi nẹp ép sát vào da của nạn nhân (tránh xây xát, rách da). Trong trường hợp nạn nhân mê, cho đầu nghiêng về một bên (để tránh tụt lưỡi lấp đường hô hấp). Sau khi đã cố định được gãy xương, di chuyển nạn nhân nhẹ nhàng đến cơ sở y tế gần nhất đủ điều kiện để điều trị tốt hơn./.

Trần Hà Tây – Cán bộ Đội Cảnh sát QLHC về TTXH

Sôi nổi tổ chức các hoạt động kỷ niệm ngày truyền thống lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

19 Tháng Tám, 2019 Hoạt động của Đoàn TN, Hội PN, Tin mới, Tin tức hoạt động công an huyện

Thiết thực chào mừng kỷ niệm 7năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945 – 19/8/2019) và 14 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 – 19/8/2019), tập thể Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã cùng nhau thi đua lập thành tích, tích cực, chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trên các lĩnh vực, không để xảy ra bị động, bất ngờ, cùng với đó là tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi chào mừng kỷ niệm 74 năm Ngày Truyền thống công an nhân dân (CAND), 14 năm Ngày Hội toàn dân bảo vệ ANTQ.

Ngày 16/8/2019, tập thể CBCS Công an huyện Đại Từ đã tổ chức lễ dâng hương báo công tại Khu di tích lịch sử 27/7 thuộc TDP Bàn Cờ, TT Hùng Sơn, huyện Đại Từ.

Từ ngày 12/8/2019 đến ngày 16/8/2019, Đoàn Thanh niên và Hội Phụ nữ Công an huyện Đại Từ đã tổ chức Giải bóng chuyền hơi lần thứ I chào mừng kỷ niệm 74 năm Ngày truyền thống lực lượng Công an nhân dân với sự tham gia của 03 đội thi đấu, kết thúc giải đấu, chiều ngày 16/8/209, lãnh đạo Công an huyện Đại Từ đã trao Giải Nhất cho Khối Quản lý hành chính gồm Đội Cảnh sát GT, TT, Đội Cảnh sát QLHC về TTXH, Đội XDPT bảo vệ ANTQ; Giải Nhì cho Khối An ninh gồm Đội Tổng hợp, Đội An ninh và Giải Ba cho Khối Điều tra gồm Đội Cảnh sát ĐTTT về HS, KT, MT, Đội Điều tra tổng hợp và Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và HTTP./.

T. Trang

 

 

Link

– Trình tự thực hiện:

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ theo quy định của pháp luật.

Bước 2: Nộp hồ sơ đề nghị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trụ sở Công an cấp huyện được phân cấp đăng ký mô tô, xe gắn máy hoặc điểm đăng ký xe của Công an cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên.

Cán bộ tiếp nhận hồ sơ:

Kiểm tra giấy tờ của chủ xe, tiếp nhận Giấy khai thu hồi đăng ký, biển số xe.

Thu biển số và giấy chứng nhận đăng ký xe, in giấy hẹn.

Bước 3: Trả giấy chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe cho chủ xe.

– Cách thức thực hiện:

Trực tiếp tại trụ sở Công an cấp huyện được phân cấp đăng ký mô tô, xe gắn máy hoặc điểm đăng ký xe của Công an cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên.

Thời gian: từ thứ 2 đến thứ 7 (theo quy định của Thủ tướng Chính phủ).

– Thành phần, số lượng hồ sơ:

+ Thành phần hồ sơ:

– Giấy khai thu hồi đăng ký, biển số xe (theo mẫu).

– Giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe.

Trường hợp mất giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe phải có đơn trình báo và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật (đối với cá nhân) và công văn đề nghị (đối với tổ chức).

– Giấy tờ của chủ xe.

+ Số lượng hồ sơ: 01 (một) bộ.

– Thời hạn giải quyết: không quá 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.

– Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: các loại xe đã đăng ký tại Công an cấp huyện (xe theo quy định tại Điều 19 Thông tư số 15/2014/TT-BCA, ngày 04/4/2014 của Bộ Công an).

– Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Công an cấp huyện được phân cấp đăng ký mô tô, xe gắn máy thuộc tỉnh Thái Nguyên.

– Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: cấp giấy chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số.

– Lệ phí (nếu có): không.

– Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có):

Giấy khai thu hồi đăng ký, biển số xe (mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư số 15/2014/TT-BCA, ngày 04/4/2014 của Bộ Công an).

– Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

+ Luật Giao thông đường bộ (Luật số 23/2008/QH12, ngày 13/11/2008).

+ Thông tư số 37/2010/TT-BCA, ngày 12/10/2010 của Bộ Công an quy định quy trình đăng ký xe.

+ Thông tư số 15/2014/TT-BCA, ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe.

+ Thông tư 127/2013/TT-BTC, ngày 06/9/2013 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy đăng ký và biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

+ Thông tư số 53/2015/TT-BTC, ngày 21/4/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư 127/2013/TT-BTC, ngày 06/9/2013 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy đăng ký và biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

 
Mẫu số 05
Ban hành kèm theo Thông tư số 15/2014/TT-BCA
ngày 04/4/2014 của Bộ Công an

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————-

GIẤY KHAI THU HỒI CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ, BIỂN SỐ XE
Declaration paper to revoke certificate of licensen plate registratio

XE (vehicle): ………BIỂN SỐ (license plate): …………
Tên chủ xe (Owner’s full name): …………………………..
Địa chỉ (Address):…………………………………………….
Điện thoại (phone number): ……………………………….
Số CMND/Hộ chiếu (Identity Card No/Passport): … cấp ngày.…./ …./… tại  ….
Đề nghị thu hồi chứng nhận đăng ký, biển số (Proposal for revoking certificate of licensen plate registration): ..
Nhãn hiệu (Brand)……….Số loại (Model code): …………
Loại xe (Type): ………… Màu sơn (color): ………………
Năm sản xuất (Year of manufacture): ……… Dung tích (Capacity):…….cm3
Số máy (Engine No): ……… Số khung (Chassis No):
Lý do thu hồi (Reson for rovoke): ……………………………..
Kèm theo giấy này có (Accompanied with this paper): ……………..
Đề nghị (Proposal): (1) ………….thu hồi chứng nhận đăng ký, biển số và cấp giấy chứng nhận đã thu hồi đăng ký, biển số xe (Rovoked certificate of licensen plate registration and Certificate of revoked license plate registration)…..

 

….. ngày (date) …. tháng …. năm ….
CHỦ XE (Owner’s full name)
(Ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu nếu là xe cơ quan)

______________

1) Ở Bộ ghi Cục CSGTĐB-ĐS: ở tỉnh, Tp trực thuộc Trung ương ghi Phòng CSGT; ở CA cấp huyện ghi Công an quận, huyện, thị xã, TP.

Link

Trình t thc hin:

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ theo quy định của pháp luật.

Bước 2: Nộp hồ sơ đề nghị đăng ký xe tạm thời tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trụ sở Công an cấp huyện được phân cấp đăng ký mô tô, xe gắn máy hoặc điểm đăng ký xe của Công an cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên.

Cán bộ tiếp nhận hồ sơ: Kiểm tra giấy tờ của chủ xe, Giấy khai đăng ký xe, đối chiếu bản chính hồ sơ xe với bản photocopy.

Bước 3: cấp giấy chứng nhận đăng ký, biển số tạm thời.

– Cách thức thực hiện:

Trực tiếp tại trụ sở Công an cấp huyện được phân cấp đăng ký mô tô, xe gắn máy hoặc điểm đăng ký xe của Công an cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên. Thời gian: Từ thứ 2 đến thứ 7 (theo quy định của Thủ tướng Chính phủ).

– Thành phần, số lượng hồ sơ:

+ Thành phần hồ sơ:

– Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu).

– Bản sao hồ sơ xe theo quy định tại Điều 17 Thông tư số 15/2014/TT- BCA, ngày 04/4/2014 của Bộ Công an.

+ Số lượng hồ sơ: 01 (một) bộ.

– Thời hạn giải quyết:

Cấp ngay biển số tạm thời và giấy chứng nhận đăng ký xe tạm thời sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký xe hợp lệ.

– Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Các loại mô tô, xe gắn máy

phải đăng ký tạm thời theo quy định tại Điều 16 Thông tư số 15/2014/TT-BCA, ngày 04/4/2014 của Bộ Công an.

– Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Công an cấp huyện được phân cấp đăng ký mô tô, xe gắn máy thuộc tỉnh Thái Nguyên.

– Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: cấp biển số tạm thời và giấy chứng nhận đăng ký xe tạm thời.

– Lệ phí: Thu theo Thông tư 127/2013/TT-BTC, ngày 06/9/2013 của Bộ Tài chính quy định chê độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy đăng ký và biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

– Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai:

Giấy khai đăng ký xe (mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an).

Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

+ Luật Giao thông đường bộ (Luật số 23/2008/QH12, ngày 13/11/2008).

+ Thông tư số 37/2010/TT-BCA, ngày 12/10/2010 của Bộ Công an quy định quy trình đăng ký xe.

+ Thông tư số 15/2014/TT-BCA, ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe.

+ Thông tư 127/2013/TT-BTC, ngày 06/9/2013 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy đăng ký và biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

+ Thông tư số 53/2015/TT-BTC, ngày 21/4/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư 127/2013/TT-BTC, ngày 06/9/2013 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy đăng ký và biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————-

Mẫu số 02
Ban hành kèm theo Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an

GIẤY KHAI ĐĂNG KÝ XE (Vehicle registation declaration)

  1. PHẦN CHỦ XE TỰ KÊ KHAI (self declaration vehicle owner’s)

Tên chủ xe (Owner’s full name): …………………….

Địa chỉ (Address): ………………………………………….

Số CMND/Hộ chiếu (Identity Card N0/Passport): …… cấp ngày……./……./.. tại…….

Điện thoại (phone number) …… Loại tài sản (ô tô/car, xe máy/motorcar): ….

Nhãn hiệu (Brand): ………… Số loại (Model code): ……………

Loại xe (Type): ………….. Màu sơn (color): ……………

Năm sản xuất (Year of manufacture): …………Dung tích (Capacity): ……cm3

Số máy (Engine N0): ……… Số khung (Chassis N0): …..

Lý do: Cấp, đổi lại đăng ký, biển số (Reason: issue, exchange, number plates, registation)..

Tôi xin cam đoan về nội dung khai trên là đúng và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về các chứng từ trong hồ sơ xe (I swear on the content declaration is correct and complely responsible before law for the vehicle documents in the file).

 

……., ngày (date) ….. tháng ….. năm …..
CHỦ XE (Owner’s full name)
(Ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu nếu là xe cơ quan)
(Sinature, write full name ….)

  1. PHẦN KIỂM TRA XÁC ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐĂNG KÝ XE:

BIỂN SỐ CŨ: ………                                BIỂN SỐ MỚI: ……

Đăng ký mới £     Đổi, cấp lại đăng ký, biển số £      Đăng ký sang tên, di chuyển £

DÁN BẢN CÀ SỐ MÁY SỐ KHUNG (ĐĂNG KÝ TẠM THỜI KHÔNG PHẢI DÁN)

Nơi dán bản cà số máy   Nơi dán bản cà số khung

Kích thước bao: Dài ……………m; Rộng …………..m; Cao ………………m

Tự trọng: …………………………kg; Kích cỡ lốp: …………………

Tải trọng: Hàng hóa: ……kg; Trọng lượng kéo theo: ………………. kg;

Kích thước thùng: ………….mm; Chiều dài cơ sở ……………. mm;

Số chỗ: ngồi ……, đứng …………., nằm …………………..

THỐNG KÊ CHỨNG TỪ ĐĂNG KÝ XE

LOẠI CHỨNG TỪ CƠ QUAN CẤP SỐ CHỨNG TỪ NGÀY CẤP
       
       
       
       

……..(1)….
(Ký, ghi rõ họ tên)

…….., ngày …. tháng …. năm ….
CÁN BỘ ĐĂNG KÝ XE
(Ký, ghi rõ họ tên)
 

…..(2)…
(Ký tên và đóng dấu)

_______________

(1) Ở Bộ ghi Trưởng phòng: ở tỉnh, TP trực thuộc Trung ương ghi Đội trưởng: Ở CA cấp Huyện ghi Đội trưởng;
(2) Ở Bộ ghi Cục trưởng: ở tỉnh, Tp trực thuộc Trung ương ghi Trưởng phòng: ở CA cấp huyện ghi Trưởng CA, quận, huyện, thị xã, TP.

Page 1 of 1712345...10...Last »